Nềntảng Việt–Hán của TiếngViệt
"名正言順 – Danh chính, ngôn thuận."
– Luậnngữ
by dchph in collaboration with Copilot
Nghiêncứu này xétlại chủthuyết NamÁ Môn‑Khmer về nguồngốc tiếngViệt, một giảthiết đã thốngtrị suốt hơn một thếkỷ nhưng thiếu nềntảng lịchsử và ngônngữhọc vữngchắc. Bằngcách tíchhợp hơn 400 đồngnguyên Hán‑Nôm được pháthiện trong từnguyên Hán‑Tạng, bàiviếtchothấy tiếngViệt hìnhthành trên nềntảng Việt‑Thái (Yue‑Taic) được phongphúhoá bởi tiếpxúc Hán kéodài, chứ không từ một tầng Môn‑Khmer tiềnsử. Phântích này đồngthời phêbình quánlực họcthuật, thiênlệch thuậntoán và những giảđịnh sailầm về tiềnsử Việtnam, từđó đềxuất một khungnền phânloại cânbằng hơn, phùhợp với chứngcứ lịchsử, khảocổ và ngônngữhọc.
I) Dẫnnhập
Việcphânloại ngônngữ tiếngViệt từlâu đã đứng tại giaođiểm của những truyềnthống họcthuật đốinghịch, những camkết ýthứchệ và những ngẫunhiên lịchsử. Suốthơn một thếkỷ, tranhluận về nguồngốc của nó đã daođộng giữa hai khungchốt chủđạo: giảthiết NamÁ Môn‑Khmer và quanđiểm Hán‑Tạng. Mỗi khungnền đã hìnhthành một dòng dẫn họcthuật riêng, với những giảđịnh phươngpháp và những điểmmù diễngiải đặcthù. Tuyvậy, diễnngôn chủđạo – được địnhhình bởi họcthuật thời thuộcdịa, chủnghĩa dântộc và những thiênlệch của thờiđại kỹthuậtsố – đã nghiênghẳn về môhình NamÁ, thường đánhđổi bằngviệc bỏqua những chứngcứ lịchsử và ngônngữhọc sâuhơn.
Bàiviết này mởlại câuhỏi về nguồngốc tiếngViệt bằngcách theodõi những chuyểnbiến ýthức xoayquanh việc phânloại. Tácgiả khảosát cách mà độngcơ chínhtrị, sức ùlì trong lãnhvực họcthuật, và sự lantruyền thôngtin sailệch trênmạng đã địnhhình nhậnthức đươngđại. Đồngthời, ông giớithiệu những côngcụ phươngpháp mới nhằm pháthiện các từđồngnguyên Hán‑Việt vốn bị chekhuất bởi khungnền NamÁ. Những pháthiện này, dựatrên ngữâm lịchsử Hán‑Tạng và được củngcố bởi hơn 400 nguyêntừ phụcchế, tháchthức những giảđịnh lâunăm và đemra xemxétlại tiếngViệt đặt trong một ngữhệ Hán‑Tạng rộnlớnghơn.
Mạch lýluận được triểnkhai thành một luậnđiểm liêntục, đitừ những điểmyếu kháinệm của giảthiết Môn‑Khmer đến những thựctế dântộchọc BáchViệt, những độnglực chínhtrị‑xãhội đã địnhhình họcthuật Việtnam, và lôgic lịchsử sâuhơn làm nềntảng cho quátrình hìnhthành dântộc Việt. Bàiviết nầy kếtthúc bằng một tổnghợp các chứngcứ ngônngữ, lịchsử và khảocổ, chỉra rằng tiếngViệt xuấtphát từ nềntảng Việt‑Thái (Yue‑Taic) được phongphúhoá do sựtiếpxúc triềnmiên với tiếngHán, chứ nó khônphải từ một tầngnền NamÁ Môn‑Khmer.
Với nềntảng đó, những phần tiếptheo chuyểnsang đường đứtgãy lớn đầutiên: sựtrỗidậy của giảthiết NamÁ Môn‑Khmer và những bópméo kháinệm mà nó đã gávào.
II) Những sailầm của Môn‑Khmer
Phần này khảosát lại giảthiết NamÁ Môn‑Khmer dưới lăngkính nhânchủng và lịchsử, với trọngtâm đặt vào nềntảng BáchViệt (Yue) của lớp từ Hán‑Việt (VS). Phântích tíchhợp những đồngnguyên cơbản mới được pháthiện trong từnguyên Hán‑Tạng (ST), từđó đềxuất một cáchhiểu mới về quátrình pháttriển ngônngữ tiếngViệt. Họ NamÁ chỉ cóthể liênhệ mộtcách cóýnghĩa với BáchViệt nếu baogồm các quầnthể xuấtphát từ lưuvực Sông Trườnggiang (揚子江). Khi được tái thẩmđịnh khungnền bằng những pháthiện Hán‑Tạng, các từnguyên này làm sángtỏ nguồngốc của nhiều từ cơbản tiếngViệt vốn bị gán nhầmlẫn vào Môn‑Khmer suốt hơncả một thếkỷ nay. Tầmquantrọng của việc địnhvị lại sẽ ngàycàng hiệnrõ trong những phần tiếptheo. (1)
Một lýthuyết ngônngữ nghiêmnhặt khôngthể táchrời nềntảng lịchsử. Tuyvậy, khungnền NamÁ Môn‑Khmer được lantruyền rộngrãi lại thiếuhẳn nềntảng ấy. Nó khôngđược chốngđỡ bởi một nhãnquan lịchsử toàndiện, cũng khôngđược chứngthực bằng tưliệu cụthể. Dùthế, các nhàlýthuyết NamÁ vẫn hưởng vịthế họcthuật ưuđãi, trongkhi các họcgiả Hán‑Tạng – dù dựadẫm vào tưliệu thànhvăn – vẫn tiếptục gặp trởlực thểchế.
Đốivới những người theo giảthiết Môn‑Khmer, khungnền lýthuyết của họ chủyếu dựatrên một tậphợp rấthẹp các từvựng cơbản, mộtphần được phiênâm từ khẩungữ, phần khác được phụcchế từ những dạng từ cơbản cổhơn. Tuynhiên, sốlượng từ vaymượn được nhậndiện mộtcách chọnlọc chỉ chiếm dưới 0,5% trong khoảng 80.000 mụctừ Hán‑Việt hữudụng cóthể cómặt trong từvựng tiếngViệt – một tỉlệ quá nhỏ để có ýnghĩa. Dù tiếngViệt có mộtsố đồngnguyên với NamÁ Môn‑Khmer, nó đồngthời có mứcđộ trùnglặp đángkể với từnguyên Hán‑Tạng. Với sựhạnchế của lớp từvựng hỗtrợ cho diễnngôn NamÁ, vịthế thốngtrị lâunăm của nó khócóthể bềnvững.
Trong diễnngôn đươngđại, thuậtngữ NamÁ thườngđược dùng thaythế cho Môn‑Khmer, dù NamÁ có phạmvi rộng hơncả về địalý lẫn kháinệm. giảthiết này, vốn hàmý một nguồngốc phươngNam, chorằng tổtiên NamÁ đã dicư cả lên phíabắc lẫn xuống phíanam từ một quêhương ở vùng ĐôngnamÁ. Các lànsóng này được chorằng đã vượtqua những cầunối nay đã bị nhậnchìm dưới biển để tiếnvào NamÁ, Ấnđộ và Hoanam lụcđịa Trunghoa, đồngthời lantới các vùngđảo hiệnđại.
Tuyvậy, giảthiết này vẫn chỉlà suyđoán. Chứngcứ khảocổ chothấy những quầnthể tiếnxuống Châu Đạidương chothấy có nhiều khảnăng ngườiđạilục từ vùng Bắcbáncầu đã đi bằng đườngbiển xuống vùng biểnđảo NamÁ, chứ khôngphải bằng đườngbộ. Liệu các nghiêncứu tươnglai có mởrộng giảthiết này để baogồm cả ngữhệ NamÁ và Namđảo (Austric) – từđó kếtnối các quầnthể Polynesia và Malaysia trên Tháibìnhdương – vẫncòn là câuhỏi bỏngỏ.
Những nghiêncứu gầnđây táixácđịnh quêhương NamÁ quanh vùng Sông Mêkông (Sidwell 2010). Sidwell lậpluận rằng các dântộc NamÁ khôngthể có chung chủnggốc với BáchViệt lịchsử, vốn cưtrú tại vùng Hoanam hạlưu Sông Trườnggiang. Trướckhi Sidwell điềuchỉnh, nhiều lýthuyết cũ đãtừng đềxuất Vânnam là quêhương NamÁ – một vùng nay được côngnhận là lãnhthổ nòngcốt của ngườiBáchViệtcổ, những người đã mởrộng xuống phươngNam.
Đốivới các cộngđồng bảnđịa phươngNam, Paul Benedict (1975) đềxuất một nhánh ngônngữ riêng mang tên Nam‑Thái (Austro‑Thai), như một môhình thaythế táchbiệt khỏi phânloại NamÁ truyềnthống và gợimở một liênhệ tiềmnăng giữa NamÁ và Tai‑Kadai. (2)
Dù nguồngốc tiếngViệt được đặt trong khungnền BáchViệt hay NamÁ, cần nhậnrõ rằng các cổvật được pháthiện ở vùng phíanam Việtnam có niênđại sớmhơn nhiều sovới sựxuấthiện của các nhóm nói Việt‑Mường muộn. Những cổvật này khôngthể xem là disản tổtiên của những cộngđồng đếnsau và trởthành chủthể vùngđất. Bạnđọc cóthể đã nhậnra, dântộc Kinh hiệnđại hìnhthành từ nguồngốc hợpchủng, chủyếu là hậuduệ của những nhóm nói tiếngViệt–Hán (Yue–Han) được địnhhình trong những giaiđoạn đầu của quátrình Bắcthuộc. Vìlýdo đó, các cộngđồng NamÁ Môn‑Khmer cổ ở Đôngdương khôngthể liênkết trựctiếp với tổtiên BáchViệt tiềnsử của ngườiViệt ở phươngBắc. (3)
Mãi đến thếkỷ 16, các nhóm Kinh Annam mới bắtđầu táiđịnhcư vùng đồngbằng sông Mêkông, dicư từ phươngBắc xuống. Từlâu trướcđó, các nhóm nói tiếng Việt‑Mường đã trảiqua những chuyểnhóa ngônngữ và dântộc sâuđậm do tiếpxúc bànghệ với BáchViệt và Hán. Những chuyểnhóa này sauđó được củngcố bởi sự hoàtrộn với các cộngđồng Môn‑Khmer và Chăm trong các lànsóng dicư về phíatây và phíanam. Khi đến Mũi Càmau, họ gặp cộngđồng Khmer phươngNam. Vìthế, những ảnhhưởng Môn‑Khmer trong vănhoá Việt hiệnđại chỉlà lớp phủ muộn, tíchtụ trong khoảng mười thếkỷ gầnđây.
Quỹđạo lịchsử này loạitrừ khảnăng ngườiViệt là hậuduệ trựctiếp của các cộngđồng NamÁ Môn‑Khmer tiềnsử, đặcbiệt vềmặt ngônngữ. Dù phântích ditruyền cóthể cungcấp thêm gócnhìn, những vấnđề sinhhọc này nằmngoài phạmvi của nghiêncứu ngônngữ hiệntại.
Về từnguyên, những pháthiện gầnđây phảnbác luậnđiểm NamÁ bằngcách chỉra rằng lớp từvựng cơbản tiếngViệt chiasẻ đặctrưng ngônngữ với hơn 400 nguyêntừ thuộc ngữhệ Hán‑Tạng. Những từnguyên này trảirộng trên một khônggian NamÁ rộnglớn, tạonên một nềntảng vữngchắc để táixemxét phânloại tiếngViệt.
Giảthiết NamÁ Môn‑Khmer, vốn tìmcách phụcchế từvựng BáchViệt tiềnsử – hay rộnghơn, từvựng NamÁ – thiếuhẳn chứngcứ lịchsử và đã tạora bấtnhất ngônngữhọc. khungnền này thườngđược dùng làm nềntảng cho các lýthuyết tiếptheo, buộc các phảnbiện phải xoayquanh nó. Ngượclại, giảthiết Hán‑Tạng được củngcố bởi tưliệu Háncổ (OC - Old Chinese). Thưtịch lịchsử ghichép sựhiệndiện của các bộtộc BáchViệt, trongđó mộtsố được nhậndiện là tổtiên tiền-Việt‑Mường, baogồm ÂuLạc (歐雒) và LạcViệt (雒越).
Mộttrongnhững khiếmkhuyết lớnnhất của giảthiết NamÁ là sựbấtlực trongviệc chứngminh quanhệ lịchsử – thôngqua văntự Khmer-cổ – giữa các từ
cơbản tiếngViệt và các từđồngnguyên Môn‑Khmer. Điềunày đốinghịch rõrệt với
việc phụcchế thậntrọng các từnguyên tiếngHán trong lớp từ Hán‑Việt, vốnđược
chứngthực bằng hệthống văntự Hán qua nhiều thờikỳ. Chẳnghạn, bốn nhucầu
cơbản của conngười: ăn, ngủ, đụ, ỉa, đềucó đốiứng từ Hán
tươngứng:
- 唵 ǎn (SV àm, ‘ăn’),
- 卧 wò (SV ngoạ, ‘ngủ’),
- 屌 diǎo (SV điệu, ‘giao hợp’),
- 屙 ē (SV a, ‘đại tiện’).
III) Nềntảng BáchViệt và sựdiễngiải saisót về tiềnsử Việtnam
Những giớihạn của khungnền NamÁ càng hiểnlộ rõrệt hơn khi ta xemxét cách các nhàlýthuyết đầutiên đã hiểusai thếgiới BáchViệt. Ngay từđầu, phânloại NamÁ đãlà một bước trượt kháinệm. Các họcgiả Môn‑Khmer lớp đầutiên chỉcó hiểubiết rất hạnchế về lịchsử cổ Việtnam và Trunghoa, trongkhi ngành Hánhọc vào thếkỷ 17 vẫn chỉ ở giaiđoạn phôithai (Lundbæk 1986). Họ đã bỏqua các cộngđồng BáchViệt và quốcthể của họ – LuóYuè (雒越, SV LạcViệt) – và xem chúng như truyềnthuyết, mặcdù tưliệu Háncổ (OC - Old Chinese) và thưtịch lịchsử ghichép rất đầyđủ.
Dù vì khókhăn trongviệc nghiêncứu BáchViệt hay vì khôngthể hoàđiệu lịchsử cổ Việtnam với từnguyên Môn‑Khmer, các nhàlýthuyết NamÁ tiênphong đãkhôngthể liênkết LạcViệt với các nhóm BáchViệt khác như ŌuYuè (歐越, ÂuViệt), XīYuè (西越, TâyViệt), MǐnYuè (閩越, MânViệt), và WǔYuè (吳越, NgôViệt). Tậpthể này được gọichung là BáchViệt (百越), baogồm nước Sở, NamViệt (南越), và nhiều hìnhthái nhànước liênđới khác. Trong khungnền lịchsử rộnglớn ấy, vịtrí của các cộngđồng NamÁ Môn‑Khmer vẫncòn mơhồ.
Những người nói ngônngữ tiền-Việt‑Mường – được đồngnhất với LạcViệt – hiểnnhiên đã tồntại. Sựhiệndiện của họ đòihỏi việc giảđịnh những dạng phươngngữ của một ngônngữ BáchViệtcổ, vốn đặt nềntảng cho nhánh tiếngViệtcổ (Vietic). Để xửlý tìnhhuống phứctạp này, các chuyêngia NamÁ đã chọn một lốiđi giảnlược: họ đồngnhất các dạng tiền‑Việtcổ với NamÁ, dựatrên mộtsốít từnguyên trong nhánh Việt‑Mường tìnhcờ trùngvới Môn‑Khmer hiệnđại (Parkin 1991).
Tuynhiên, vềmặt lịchsử, các nhàlýthuyết NamÁ gặp trởngại lớn khi cốgắng phụcchế những dạng ngônngữ cổ cóthể liênkết hợplý giữa LạcViệt, BáchViệt và Háncổ. Những tiếpxúc này – có niênđại hơn 3000 năm – đã đểlại dấuấn bềnbỉ trong từvựng tiếngViệt.
Hãy xét các từ cầy và chó, vốn liênhệ lịchsử với 狗 gǒu (HV cẩu) và 犬 quán (phươngngữ Tứxuyên-Tây /co1/), đều nghĩa là “chó”. Các dạng songâm phátsinh từ chúng càng củngcố từnguyên Hán‑Tạng:
- 犬坐 (quánzuò) → chồmhỗm (“ngồichồmhỗm”)
- 犬牙 (quányá) → răngkhểnh (“răngnanh”)
- 小狗 (xiǎogǒu) → cầytơ (“chócon”)
- 犬子 (quánzi, “chócon”) → concún
Dạng chồmhỗm, thườngđược gáncho Khmer chorohom (Nguyễn Ngọc San 1993), đó cóthể chỉlà trùnghợp ngẫunhiên vì từ này trong tiếngViệt đồngnguyên với Háncổ. Như các chương sau sẽ chỉra, những từnguyên từng bị xếp mạnhmẽ vào Môn‑Khmer (xem Mei Tsu‑lin, What Makes Chinese So Vietnamese - APPENDICES) nay được xácnhận thuộc ngữhệ Hán‑Tạng.
Sửliệu thànhvăn củngcố mạnhmẽ quanđiểm tồntại về một ngônngữ BáchViệt tổtiên và những cộngđồng hậuduệ của nó. Jerry Norman (1979) gọi thứtiếng này là một ngônngữ ngoạilai đã tuyệtchủng. Các kinhđiển Háncổ môtả người BáchViệt nói những dạng Việtcổ, tồntại songhành với những dạng Tháicổ (Taic) được chorằng do dân nướcSở (楚國) sửdụng.
Một vídụ hiếmhoi là bài Việtnhânca (越人歌), được ghilại bằng tiếngViệtcổ vào thếkỷ 6 TCN bởi Ejun Zizhe (鄂君子皙, Ngạcquân Tửtích). Các nhàngônngữhọc tiếngHán đã phântích lờica để khôiphục những mảng từvựng BáchViệtcổ. Thêmvàođó, Lưu Bang (劉邦), vịvua sánglập Nhà TâyHán, nhiều khảnăng nói một phươngngữ của tiếngSở, vì ông và thuộchạ dướitrướng đềulà cựu thuộcthần nướcSở trướckhi thiếtlập nhàHán.
Các nhàlýthuyết NamÁ khôngcó tưliệu lịchsử để chứngthực luậnđiểm của họ và khôngthể chỉra một khungnền Môn‑Khmer phùhợp với tiềnsử của thựcthể nhànước Việt – tức LạcViệt – khi đặttrong bốicảnh BáchViệt rộnglớn.
Đồngthời, cũng cần thừanhận những giớihạn khi giảđịnh một ngônngữ Thái‑Việt hay tiền‑Việt. Nhưng những giớihạn này vẫn nhỏhơn nhiều sovới giảthiết NamÁ, vốn hoàntoàn thiếu chứngcứ lịchsử. Khi các nhóm Môn dicư từ miềnnam Trunghoa xuống bánđảo Đôngdương, họ đã hìnhthành một quêhương Môn‑Khmer phươngNam, sau trởthành điểmxoay địalý lan ngượclên phíabắc về phía Việt‑Mường. Chuyểndịch này xảyra trước các lànsóng quân nhàHán gốc BáchViệt theochân quanlại nhàHán tiếnvào Annamcổ.
Vìthế, có cơsở để chorằng tổtiên LạcViệt của ngườiViệt đã nói một dạng Việtcổ – cóthể là tiền-Việt‑Mường pháttriển từ một ngônngữ Thái (Taic-Yue) tổtiên. Trớtrêu thay, các nhàlýthuyết NamÁ đã vôtình đưa chính từnguyên này vào phụcchế của họ, chodù nó không phùhợp với Môn‑Khmer hiệnđại.
Một ngônngữ Thái tiềnsử nhiều khảnăng là gốctổ của tiền-Môn‑Khmer. Khi ngônngữ tiếnhoá, hai nhánh Môn‑Khmer và Việt‑Mường táchrời. Môn‑Khmer dần rờixa các dạng Tháicổ, trongkhi Việt‑Mường tíchhợp các yếutố Hán qua sựtiếpxúc với những lànsóng didân từ Hoanam. Banđầu đượcxem như kháchcư bấtkể địavị xãhội, những didân này kếthôn với cưdân bảnđịa, và cuốicùng hìnhthành cộngđồng dântộcKinh hiệnđại – khácbiệt với các nhóm thiểusố Môn‑Khmer.
Độngthái này hélộ một môthức sâuhơn: diễnngôn NamÁ Môn‑Khmer thường phảnchiếu những tuyênbố của mộtsố họcgiả Việtnam chorằng các cổvật tìmthấy trong vùng sápnhập là disản tổtiên của ngườiViệt (?), dù rõràng là họ khôngcó quanhệ huyếtthống. Tươngtự, giảthiết NamÁ đặtnặng vào những giảđịnh ngônngữ‑nhânchủng từ các cộngđồng thiểusố từng bị đẩylên miềnnúi.
Ẩndụ này cóthể đixahơn: nó chẳngkhácgì chorằng người Mỹ hiệnđại là hậuduệ trựctiếp của thổdân châuMỹ, hay chorằng người Đàiloan chỉcó tổgốc NamĐảo hoặc Thái‑Hán (Sintic-Taic) – dù cảhai quốcgia chỉcó lịchsử được côngnhận chưatới ba thếkỷ.
Một lýthuyết nghiêmchỉnh về nguồngốc ngônngữ – dù là Ấn‑Âu hay Hán‑Tạng – đều đòihỏi chứngthực lịchsử, thườngđược củngcố bằng văntự, như Latin, Hylạp, Pali hay Sanskrit. Thiếu chứngcứ lịchsử, mọi giảthiết chỉlà suyđoán. Cả tiềnsử lẫn lịchsử thànhvăn đều địnhhình tiếnhoá ngônngữ, quyếtđịnh ngônngữ nào tồntại hay biếnmất. Nóitómlại, lịchsử là nềntảng của một dântộc và ngônngữ của nó.
Ngượclại, giảthiết NamÁ Môn‑Khmer thiếu chứngcứ lịchsử trựctiếp và phầnlớn chỉlà suyđoán, dựa chủyếu vào hìnhthái phụcchế các từvựng cơbản. Dù các nhàlýthuyết NamÁ đã xâydựng được những phânloại và phươngpháp cóvẻ hợplý, lýthuyết này lại bỏqua hoàntoàn tiếntrình pháttriển ngônngữ Hán. Nghiêncứu này sửdụng chính những nguyêntắc ngônngữhọc của NamÁ để phântích khunghình cấutrúc đã địnhhình nó. Sứcmạnh của khungnền này nằm ở sựtinhxảo phươngpháp – dùng một tậptừ cơbản hạnchế, thaythế tưliệu lịchsử bằng khảocổ, và bổsung phântích DNA sơbộ của dântộc Kinh khi thíchhợp.
Tươngtự như các lýthuyết cấutrúc về biếnđổi âmvị – vôngôi, trungtính, cơgiới và hìnhthức – khungnền phươngpháp NamÁ cóthể được mởrộng để dựngnên giảthiết cho bấtkỳ ngônngữ nào. Với cùng côngcụ và phươngpháp ấy, ngườita cóthể tạora một môhình ngônngữ cho bấtkỳ tiếngnói nào, kểcả thứtiếng khôngcó lịchsử, và trìnhbày nó như một khungnền hợppháp.
Khôngthể phủnhận rằng phươngpháp phươngTây đã thúcđẩy ngônngữhọc tiếnbộ mạnhmẽ, tạora những độtphá của nhiều ngữhệ. Bắtđầu từ nghiêncứu Ấn‑Âu, các phươngpháp này lansang Hán‑Tạng, đónggóp những cảitiến như phụcchế ngữâm Háncổ vào đầu thếkỷ 20. Giảthiết NamÁ Môn‑Khmer cũng xuấtphát từ lànsóng nghiêncứu phươngTây này. Các họcgiả như Maspero (1940s) và Thomas (1960s) đã đềxuất từnguyên tiếngViệt dựatrên bảng đốichiếu Môn‑Khmer. Côngtrình của họ trởnên có ảnhhưởng vì nhậndiện được những đồngnguyên Môn‑Khmer‑Việt phùhợp với khungnền cấutrúc về biếnđổi ngữâm và sự hìnhthành thanhđiệu, củngcố các môhình phươngTây đươngthời.
Trong bốicảnh ảnhhưởng mạnhmẽ ấy, quanđiểm NamÁ Môn‑Khmer về nguồngốc tiếngViệt đãđược tiếpnhận rộngrãi, chủyếu nhờ sựđỡđầu thểchế nhànước. Trong họcthuật, đitheo đồngthuận chung thườnglà conđường antoàn nhất. Tươngtự các nhàHánhọc trướcđó, nhiều họcgiả Việtnam được đàotạo theo môhình phươngTây – sau gần một thếkỷ là thuộcđịa của Pháp – đã tuântheo những lýgiải mới, dù do áplực hay tựnguyện. Vìthế, các chuyêngia trongnước thường đứng vào phe NamÁ để côngtrình của họ được côngnhận, tránh sốphận bị lãngquên như nhiều nghiêncứu bị bỏqua trong các thậpniên trước.
IV) Tính ùlì trong họcthuật và chínhtrị của việc phânloại tiếngViệt
Đốivới nhiều họcgiả, việc bámchặt vào môhình NamÁ khônghẳn xuấtphát từ niềmtin tríthức mà từ nhucầu sinhtồn họcthuật – một nỗlực để giữ mình trong quỹđạo của giớihọcthuật chínhthống. Tuyvậy, phầnlớn những người đã cắmrễ trong khungnền này lại không tạora được độtphá thựcsự nào, mà chỉ quayvòng trong một “vòngquay họcthuật”. Việc thoátkhỏi môhình ấy là một tháchthức mà chỉ chính họ mới cóthể tự giảiquyết.
Khi xemxét nềntảng địalý của các lýthuyết NamÁ, ta thấy sựđốinghịch rõrệt với thựctế lịchsử của miềnBắc Việtnam. Các môhình NamÁ thường đặt điểmxuấtphát của nó ở vùng đôngnam của bánđảo ĐôngnamÁ, nơi lưuvực Sông Mêkông đổra biển. Ngượclại, miềnBắc Việtnam có mốiliênhệ lịchsử sâuđậm với miềnnam Trunghoa. Đây từnglà vùng cưtrú của các cộngđồng BáchViệtcổ – LạcViệt, ÂuViệt và các nhóm liênđới – được ghichép rộngrãi trong sửliệu Trunghoa. Sau năm 111 TCN, họ hoàtrộn với các nhóm didân Hán sơkỳ táiđịnhcư saukhi nước NamViệt bị sápnhập vào đếquốc Hán. Vềmặt ngônngữ, tiếngViệtcổ và mộtsố phươngngữ Hán đã pháttriển songhành thôngqua những quátrình hoàtrộn dântộc và vănhóa tươngtự.
Đến năm 939 SCN, có cơsở để chorằng cưdân Annamcổ đã có songngữ, dùng tiếngHán Trungcổ (MC) trong hànhchính và một thứtiếng phatrộn Hán‑Việt gọilà Hán-Nôm trong giaotiếp thườngnhật. Thứtiếng Annamcổ hỗnhợp này – tạm gọilà ngônngữ hỗndung (- hybrid) – đốivới cưdân vùng NamHán, baogồm Quảngđông và Quảngtây, họ có nhiều khảnăng đangữ thì vẫn dễhiểu.
Dù còn nhiều khiếmkhuyết phươngpháp, các nhàlýthuyết NamÁ đã đưavào nghiêncứu của họ một dạng “côngcụhoá ngônngữ”. Côngtrình của họ liệtkê hơn 100 từ cơbản tiếngViệt cóvẻ cócùng gốcgác với Môn‑Khmer. Tuyvậy, dựatrên những pháthiện Hán‑Tạng được trìnhbày ở các phầnsau, nhiều từ trongsốđó cóthể chỉlà kếtquả của tiếpxúc ngônngữ với các cộngđồng Môn‑Khmer sống ở vùng núinon xaxôi. Sựtiếpxúc này cóthể bắtnguồn từ thờikỳ xaxưa, khi các nhóm Môn‑Khmer và Việt‑Mường – bị đẩylùi bởi sựmởrộng của Hán – vẫncòn ởlại quêhương tổtiên của họ.
Theo thờigian, cả cưdân bảnđịa lẫn người phươngBắc đều hoàtan vào một xãhội thuộcđịa, hìnhthành cộngđồng đasố nay đượcgọilà ngườiKinh. Sự hộitụ ngônngữ tiếptục diễntiến trong quátrình tiếpxúc giữa ngườiKinh và các nhóm Môn‑Khmer khi nướcViệt mởrộng xuống phíanam vượtqua vĩtuyến 16 sau thếkỷ 12, và đạtđến Càmau vào cuối thếkỷ 18. Vìthế, việc vaymượn và traođổi ngônngữ là điều khôngthểtránh, thểhiện qua các yếutố Chăm trong phươngngữ Huế.
Thôngqua quátrình mởrộng lãnhthổ và hoàhôn giữa didân và cưdân bảnđịa, các yếutố Môn‑Khmer dần được tíchhợp vào từvựng tiếngViệt.
Quêhương của các ngônngữ ĐôngnamÁ nằm trong cùng một vùng với tiếngViệt. Merritt Ruhlen, trong The Origin of Language (1994), môtả họ ngônngữ Namđảo (Austric) và phânloại của nó, đặt NamÁ, Miêu‑Dao, Thái và NamĐảo trong một phổhệ ngônngữ ĐôngnamÁ rộnglớn. Phântích của ông nhấnmạnh sựcổxưa của các lànsóng dicư nôngnghiệp từ hai dòngsông Hoànghà và Trườnggiang, lanxuống Việtnam và TháiLan khoảng 5.000 nămtrước, và lấnsang Đàiloan, Philippines và Châu ĐạiDương.
Trong khungnền rộnghơn của Ruhlen, ông đã nêubật hai giaiđoạn thiếtyếu của ngônngữhọc lịchsử:
- Phânloại (Taxonomy) – xácđịnh ngữhệ trướckhi phụcchế.
- Phươngpháp phụcchế (Reconstruction) – xửlý đốiứng ngữâm, nguồngốc và tiếnhoá dạng nguyêtừ.
Ông phêphán các họcgiả Ấn‑Âu thếkỷ 20 đã đảongược hai cấpđộ này, chorằng chỉ cần phụcchế là đủ để phânloại. Sự đảongược này dẫnđến trìtrệ lýthuyết, nơi mọithứ vượtrangoài điều hiểnnhiên đều bị xemlà “ngoài phạmvi”.
Chính khiếmkhuyết phươngpháp này đãđược các họcgiả NamÁ lặplại trong giảthiết Môn‑Khmer về tiếngViệt. Nỗlực phânloại của họ chủyếu dựavào phụcchế từ cơbản và môhình biếnđổi ngữâm, nhưng thiếu gắnkết với tưliệu lịchsử và không tíchhợp được tínhliêntục từnguyên nhưđược nhậnthấy điềuđó bên ngữhệ Hán‑Tạng.
Trên bướctiến của ngônngữhọc, việc táixemxét giảthiết NamÁ Môn‑Khmer thôngqua sosánh đốichiếu kếthợp với sửliệu là điều thiếtyếu để hiểurõ nguồngốc tiếngViệt. Phươngpháp của các nhàlýthuyết NamÁ dựatrên những môhình cơgiới cứngnhắc, thường môphỏng theo côngthức toánhọc của trườngphái Ấn‑Âu – những phươngpháp vốn khôngthíchhợp cho việc phụcchế ngônngữ ĐôngnamÁ. Các phươngpháp này thiếu bằngchứng về conngười, ngônngữ và quêhương của họ. Vìthế, họ đãkhông xáclập được ngữhệ cụthể trướckhi tiếnhành sosánh – một sự đảongược phươngpháp đúngđắn mà Ruhlen đã cảnhbáo.
Điềunày dẫnđến một câuhỏi sâuhơn: nếu giảthiết Môn‑Khmer thiếu nềntảng lịchsử, vậy lôgic lịchsử nào phùhợp với tiếnhoá tiếngViệt? Để trảlời, bàiviết nay sẽ bànthảo về vaitrò của têngọi, nhànước và bảnsắc dântộc‑ngônngữ trongviệc địnhhình tựnhậnthức của dânViệt.
V) Têngọi lịchsử, nhànước, và hìnhthái liêntục BáchViệt–Việtnam
Têngọi lịchsử giữ vaitrò quyếtđịnh trongviệc phânbiệt nguồngốc, mốcthờigian và liênđới vănhóa. Trong diễnngôn họcthuật, quyước têngọi địnhhình chính những khungnền kháinệm dùng để phântích và phânloại ngônngữ. Thuậtngữ Hán (Sinitic), chẳnghạn, chỉra một thựcthể chưahề tồntại trong thờicổ, trongkhi Việt (Yue) chỉđịnh một tộcngữ (cộngđồng dântộc‑ngônngữ) cổhơn, cótrước lànsóng dicư xuống phươngNam của các nhóm táiđịnhcư từ tâybắc và đôngbắc. Những nhóm didân này hoàtrộn với cưdân Việt bảnđịa, và theo thờigian hìnhthành nên thựcthể mà vềsau được nhậnbiết là Hán. Một quátrình tươngtự đã diễnra xahơn về phươngNam, tại vùng phíabắc Việtnam hiệnđại, tạonên cộngđồng mà vềsau đượcgọilà ngườiViệt.
Vềmặt địalý-chínhtrị, têngọi Việtnam đã xuấthiện rấtmuộn sovới Annam. Tuyvậy, các nhàlýthuyết NamÁ đã dựngnên một chủthuyết ngônngữ trongđó NamÁ cótrước thời Môn‑Khmer, rồiđến Việt‑Mường, và cuốicùng tiếnhoá thành tiếngViệt hiệnđại – một khẳngđịnh khôngcó chứngcứ lịchsử cụthể. (4)
Như Khổng Tử từng nói: 名正言順 – “Danh có chính ngôn mới thuận.” Trườngphái NamÁ dườngnhư không xétđến việc các têngọi nhànước có liênquan đến “Việtnam”, rằng dânViệt và tiếngViệt chỉ hìnhthành sau năm 939 SCN. Trong giaiđoạn này, tênnước đượcgọilà Nhà Ngô (吳朝 Wǔcháo), một têngọi không liênquan trựctiếp đến danhxưng Annam mà lại trùnglắp với vùng nướcNgô cổ, vùng này ngàynay thuộc hai tỉnh Giangtô va Triếtgiang, Trungquốc. Qua nhiều thếkỷ, nhànước Việtnam cổ này dần chuyểnhóa thành một thựcthể độclập thôngqua những thayđổi quốchiệu thừatục.
Đángchúý, trong cùng thờikỳ ấy, NamHán (南漢) – một vươngquốc baotrùm vùng duyênhải Quảngđông và phần tâybắc Việtnam – đã đặt một têngọi đặcbiệt. Vua Lưu Nghiễm (劉嚴) banđầu đặt tênnước là ĐạiViệt (大越 DàYuè) trướckhi đổisang têngọi NamHán, như sửliệu Trunghoa ghichép. Sựđổitên này phảnánh chính cơcấu dântộc của vùngđất, nơi Việt và Hán hoàlàmmột.
Têngọi ĐạiViệt vềsau trởthành quốchiệu của Việtnam bắtđầu từ Nhà Lý (1009–1225). Điều thúvị là 大越 DàYuè xuấthiện nhiềulần trong lịchsử Trunghoa. Một trườnghợp đángchúý xảyra năm 895, khi Đổng Xương (董昌) xưngvương và lậpnước 大越羅平國 (ĐạiViệt Labình Quốc), vềsau gọilà 越州 (VhâuViệt), tại vùngđất nướcNgô cũ naylà Thiệuhưng (紹興), thuộc Tỉnh Triếtgiang, Trungquốc.
Củngcố thêm mạch liêntục ấy, Tỉnh Quảngđông hiệnđại vẫngiữ têngọi tổtiên NamJyut Kwok (南越國, HV NamViệtquốc), như một nhắcnhở về nguồngốc BáchViệt của vùng này.
Tại Annam, các triềuđại liêntiếp thayđổi quốchiệu (國號) trongsuốt thờicổ. vềmặt ngônngữ, cách phânloại NamÁ Môn‑Khmer, Việt‑Mường, Việtcổ, và thậmchí “tiếngViệt” đềulà những kháinệm họcthuật hiệnđại dùng để môtả Annam độclập thếkỷ 10. Khiấy, lãnhthổ của nó chỉ kéodài đến vùng Hàtĩnh ngàynay, chưahề baogồm miềntrung hay miềnnam Việtnam hiệnđại.
Trong khungnền lýthuyết NamÁ Môn‑Khmer, tiếngViệt được gán tươngứng với từng quốchiệu ở các thờikỳ sau, rồi được đẩylùi ngược vào tiềnsử. Tuyvậy, bảnchất ngônngữ của tiền‑Việt – trướckhi tiếnhoá thành tiếngViệt hiệnđại – khônggiống với thứtiếng mà các nhàlýthuyết NamÁ gọilà “tiền‑Việt”.
Lậpluận đươngđại về tiếngViệt thường xoayquanh các ảnhhưởng ngônngữ riêngbiệt, chẳnghạnnhư các yếutố Chăm trong phươngngữ Huế. Các đạitừ như ni, nớ, mô, tê, ri, rứ, chừ được chorằng cóthể bắtnguồn từ Hán, cùng nhiều nguồn khác. Điềunày chothấy thảoluận về tiếngViệt thựcchất baogồm nhiều tầng ngônngữ khácnhau. NgườiViệt và tiếngViệt thếkỷ 10 cólẽ rất khácvới các cộngđồng Môn‑Khmer mà họcgiả đầu thếkỷ 20 thường nhắcđến.
Những giảđịnh này càng bị tháchthức bởi các dạng từ Nôm sớmnhất còn lưu trong vănbản thếkỷ 15 như Phật thuyết Đại Báo Phụ mẫu Ân trọng Kinh.
Giảthiết NamÁ Môn‑Khmer dựa nặng vào một danhmục từ cơbản đượccholà quyếtđịnh nguồngốc tiếngViệt. Tuyvậy, cáchtiếpcận này khôngđủ khảnăng phảnánh thựctế lịchsử – nhấtlà khi Việtnam chỉđược chínhthức đặt tênnước vào năm 1804 dưới Triều Vua Gia Long.
Điềunày dẫn chương đến chặng cuối: bứctranh lịchsử‑ngônngữ rộnglớn trongđó tiếngViệt hìnhthành – một bứctranh không dựatrên tổgốc Môn‑Khmer, mà trên nềntảng Việt‑Thái (Yue‑Taic) được phongphú hoá qua nhiều thếkỷ tiếpxúc Hán.
VI) Nềntảng Thái‑Việt (Taic‑Yue) và lôgic lịchsử của tiếngViệt
Khi các nhóm didân ngườiViệt tiến xuống những vùng lãnhthổ được sápnhập từ nước Cambốt của ngườiKhmer vào thếkỷ 16, mứcđộ tiếpxúc của họ với cộngđồng Khmer thựcchất rất hạnchế. Cơcấu dântộc của các vùng này hiệnđại phảnánh ba nhóm chính với tỉlệ gần tươngđương: người Kinh, người Hoa Triềuchâu và người Khmer. Nếu từ chồmhỗm (“ngồichồmhỗm”) của tiếngViệt giốngvới Khmer chrohom, điều đó khôngcó gì lạ trong một vùng địalý giaothoa. Tuyvậy, chồmhỗm vẫn cũng cóthể được truynguyên về 犬坐 (quánzuò), một từngữ đãđược ghilại hơn 2000 năm trước trong Tả Truyện (左傳), hélộ một từnguyên sâuhơn, cótrước ảnhhưởng Môn‑Khmer.
Các nhãn như NamÁ, Môn‑Khmer, Việt‑Mường, Việtic đềulà những kháinệm hiệnđại được ápđặt hồiquy lên các thựcthể ngônngữ lịchsử vốn vẫncòn mangtính giảđịnh. Sốliệu điềutra dântộc hiệnđại – liệtkê Khmer và Hoa lầnlượt là 1,37% và 0,78% dânsố – chekhuất thựctế lịchsử rộnghơn hìnhthành từ ngànxưa: các nhóm thiểusố ngườiHoa sơkỳ hoànhập vào dânbảnđịa sinhsống ở vùng kinhđô và dầndà tấtcả thànhhình nên cộngđồng ngườiKinh, tức dântộcKinh, trongkhi người Khmer đã được côngnhận trênmặt pháplý và xãhội như côngdân Việtnam từ đầu thậpniên 1960.
Từ gócđộ lịchsử, các chuyêngia NamÁ thường phớtlờ lịchsử Việtnam, cólẽ vì khôngcó chứngcứ lịchsử nào dùng để củngcố giảthiết ngônngữ của họ. Các vùngđất phíanam của Việtnam hiệnđại từng thuộc Vươngquốc Khmer, nhưng lịchsử Khmer khôngcó bànghệ liênđới trựctiếp nào với ngướiAnnamcổ.
Dù quyềnlực của Vua Thương cóthể chỉ trựctiếp baotrùm một phần vùngđất, ảnhhưởng của họ lanrộng khắp Trungnguyên và Hoabắc. Các chưhầu và thủlĩnh bộlạc, tuy caiquản lãnhthổ riêng, vẫn thừanhận quyền uy của triềuđình nhà Thương.
Hệthống văntự – dạng sơkhai của chữHán – đãđược sửdụng, cùngvới kỹthuật đúcđồng tiêntiến. Đồđồng Thương đượcxemlà tinhxảo bậcnhất thếgiới.
Ảnhhưởng vănhóa từ Hoànghà lan xuống lưuvực Sông Trườnggiang, thúcđẩy sự mởrộng dâncư. Một nền vănhóa phi‑văntự nhưng vậtchất pháttriển cao đang hìnhthành tại đây.
A. Trởlại BáchViệt – nềntảng lịchsử của tiếngViệt
Để đặt tiếnhoá tiếngViệt vào một khungnền lịchsử rộnghơn, ta phải quay lại các nhóm BáchViệt từng cưtrú trong lãnhthổ nước NamViệt (南越王國):
-
LạcViệt (雒越, LuóYuè) và ÂuLạc (歐雒, ŌuLuó): đượcxemlà tổtiên của ngườiViệtcổ.
-
TâyViệt (西越, XīYuè): tổtiên của cộngđồng Quảngđông và Triềuchâu.
-
ĐôngViệt (東越, DōngYuè): nhóm tiền‑Phúckiến, cưtrú tại vùng nay là Phúckiến.
Chuỗi tầng ngônngữ BáchViệt này chothấy Annam luôn gắnbó chặtchẽ với disản lịchsử‑ngônngữ Trunghoa, ngaycảkhi nó dần địnhhình conđường độclập.
Sửliệu chorằng trước và sau năm 111 TCN, các bộtộc BáchViệt cólẽ nói những dạng phươngngữ tươngthông của một ngônngữ Việt tổtiên. Điềunày baogồm cả tiếngnói của cưdân nướcSở (楚國), vốn cóthể phảnánh những liênhệ Thái sơkhai. Lưu Bang (劉邦), ngươi sánglập nhàTâyHán, và thuộchạ của ông vốnthuộc thầndân nướcSở. Tổtiên họ cóthể đã nói một thứtiếngdạng Tháicổ (Taic-Daic) thuộc ngữchi Thái-Tày rộng (Daic-Kadai), dần phânhoá trong thời Chiếnquốc tớikhi được thốngnhất dưới Tần Thỉhoàng (秦始皇).
Saukhi NamViệt bị Hán thôntính năm 111 TCN, cưdân nơiđây cólẽ vẫngiữ mứcđộ tươngthông với các nhóm BáchViệt lâncận. Theo thờigian, sựphânhoá tăngdần theo khoảngcách địalý. Lãnhthổ NamViệtcổ baogồm cả vùng đôngbắc Việtnam, đặcbiệt là Giaochâu (交州), vềsau vùng này trởthành “Annam Đôhộphủ” dưới đờiĐường.
Từ môitrường đangônngữ này, các dạng tiền‑Việt và tiền‑Quảngđông đã hìnhthành trên nềntảng Thái‑Việt (Yue-Taic), rồi dần tíchhợp yếutố Hán qua nhiều thờikỳ Bắcthuộc. Những quỹđạo này hầunhư không trùng với cách phânloại của ngữhệ NamÁ Môn‑Khmer. Ngaycả tổgốc Thái-Tày (Taic-Daic) của cộngđồng NamViệt cổ ở Quảngđông cũng khôngphùhợp với môhình NamÁ. Dù khungnền Môn‑Khmer có đónggóp phươngpháp, nó khôngphùhợp với tiếntrình lịchsử đã địnhhình tiếng Annamcổ.
Ngượclại, phânloại Hán‑Tạng phùhợp hơn với trầnthuật lịchsử. Nó chỉra sựhộitụ giữa tiếngViệtcổ và tiếngHán Trungcổ (MC), gợiý rằng cưdân Annam thếkỷ 10 cóthể nói songngữ. Sựtiếpxúc giữa tiếng Annam và Quảngđông cólẽ vẫn tiếptục trong nước NamHán, baogồm Quảngđông, Quảngtây và một phần miềnBắc Việtnam.
Cuốicùng, rấtkhó điềuhoà các yếutố NamÁ Môn‑Khmer với tiếnhoá lịchsử của tiếng Annam – một ngônngữ có quỹđạo hìnhthành gần với chuyểnhoá Hán‑Việt hơnlà với Môn‑Khmer.
B. Trunghoa như một “Trungquốc”
Lịchsử Trunghoa – “TrungQuốc” (中國) – chothấy một trungtâm quyềnlực bao quanh bởi các chưhầu. hiệnđại, nó là một liênbang đadântộc dưới một trungương tậpquyền. Các vùng như Tâytạng, NộiMông, Tâncương, Quảngtây, Vânnam với nước Namchiếu và Đạilý, cùng Hồng Kông và Đàiloan, tấtcả vẫngiữ bảnsắc lịchsử riêng bấtkể ngônngữ hay dântộc.
Trong biêngiới Trunghoa, hầuhết các ngônngữ Hán đượcxemlà phươngngữ của một ngữchi Hán rộng. Hãy xemxét trườnghợp Annam – từnglà một châuquận của Trungquốc. Giảđịnh rằng Quảngchâu táchkhỏi Trunghoa và trởthành một quốcgia độclập, nó cóthể pháttriển thành một thựcthể giống Việtnam hoặc Đàiloan – điềunày phùhợp với quyluật pháttriển lịchsử. Vềmặt ngônngữ, chẳnghạn tiếngHảiNam được mang đến bởi didân Phúckiến từ đời nhàHán đến Đảo Hảinam, tiếngnói này thuộc phươngngữ MânNam. Tuy giốngnhư phươngngữ Triềuchâu, nóichung các nhóm này vẫn khônghiểu nhau qua tiếngnói dù cóchung tổgốc.
Để hiểurõ đadạng của nhữ phươngngữ cùnggốc Hán, hãy xemxét sựhìnhthành nước Việtnam, nên nhớ là nó xuấtphát từ một châuquận táchra khỏi “Đại Trungquốc”. Nếu Việtnam ngàynay vẫn trựcthuộc Trunghoa, sẽ khôngcó tranhluận nào về việc cưdân của thựcthể chínhtrị-hànhchính này cóphải họ nói một phươngngôn Hán haykhông – tươngtự Quảngđông hay Phúckiến – vì tấtcả đềuđược xếpvào ngữhệ Hán‑Tạng. Qua những sựkiện lịchsử nầy ta thấy mứcđộ Hánhoá của những phươngngữ nầy rất rộnglớn.
Ngượclại, môhình NamÁ Môn‑Khmer thiếu nềntảng lịchsử, cả về ngônngữ lẫn về mốiliênhệ với Vươngquốc Khmer cổ, vốn pháttriển độclập với Annam. Khôngcó yếutố chínhtrị nào của Khmer phùhợp với trầnthuật hìnhthái Việtnam cổ dưới ảnhhưởng đếquốc nhàHán.
Sau một thiênniên kỷ Bắcthuộc, điều đángchúý là tiếngViệt không trởthành một phươngngữ của tiếngHán chỉvì vùngđất này saukhi táchkhỏi Trungquốc, nó đã pháttriển một thựcthể ngônngữ hoàntoàn riêngbiệt, với tiếngViệt Trungđại hìnhthành vàokhoảng năm 939 SCN.
Để hiểu rõhơn tiếnhoá của tiếngViệt, cóthể sosánh nó với tiếngAnh: cũngnhư các yếutố Hylạp và Latin làmgiàu nềntảng Anglo‑Saxon trong ngữhệ Ấn‑Âu, các yếutố Hán‑Tạng và Hán đã hoànhậpvào tầng Việt‑Thái (Taic-Yue), địnhhình tiếngViệt thành một thựcthể độcđáo riêngbiệt.
Kếtluận
Hiệuứng “tẩynão” xếp ngữhệ cho tiếngViệt chothấy những diễnngôn bámrễ về nguồngốc tiếngViệt cóthể được gộtsạch khi được xemxét lại mộtcách nghiêmnhặt. Việc pháthiện hàng trăm từ đồngnguyên Hán‑Nôm chứngminh rằng tiếngViệt chiasẻ cấutrúc và từvựng với tiếngHán theo những cách mà Môn‑Khmer khôngthể giảithích. Tuy môhình NamÁ đã thốngtrị lâu dài, nó suyyếu khi đốidiện với tínhchất songâm, thanhđiệu, và những tươngứng từnguyên tếnhị sâusắc kếtnối tiếngViệt với ngữhệ Hán‑Tạng.
Việc táiphânloại này không chỉlà vấnđề phânloại ngônngữ; nó táiđịnhhình cách ta hiểurõ quỹđạo vănhóa và lịchsử của Việtnam. Bằngcách tháchthức những khungnền kếthừa và đốikháng thiênvị, nghiêncứu này kêugọi một cáchtiếpcận cânbằng hơn – thừanhận cả tiếpxúc lẫn quanhệ huyếtthống. Ẩndụ “tẩynão” trởthành một lời mờigọi: hãy đốimặt và gộtbỏ lớp ýthứchệ và nhìnlại tiếngViệt nhưlà một ngônngữ được tôiluyện tại giaođiểm truyềnthống BáchViệt, Thái và Hán‑Tạng (Yue-Taic-Tibetan).
Sách Thamkhảo
Aitchison, Jean. Language Change: Progress or Decay? Cambridge University Press, 1994.
Alves, Mark J. "What’s So Chinese About Vietnamese?" In Papers from the Ninth Annual Meeting of the Southeast Asian Linguistics Society, edited by Graham W. Thurgood, 221–242. Arizona State University, 2001.
Alves, Mark J. "Categories of Grammatical Sino‑Vietnamese Vocabulary". Mon‑Khmer Studies 37 (2007): 217–229.
Alves, Mark J. "Loanwords in Vietnamese" In Loanwords in the World’s Languages: A Comparative Handbook, edited by Martin Haspelmath and Uri Tadmor, 617–637. De Gruyter Mouton, 2009.
An Chi. Rong chơi Miền Chữ nghĩa (Vols. 1–5). Ho Chi Minh City: NXB Tổng hợp, 2016–2024.
An Chi. Từ nguyên. Ho Chi Minh City: NXB Tổng hợp, 2024.
Anderson, I. J. "Some Fossil Mammal Localities in Northern China" The Museum of Far Eastern Antiquities 14 (1945): 29–43.
Anttila, Raimo. Historical and Comparative Linguistics. Amsterdam/Philadelphia: John Benjamins, 1989.
Bai, Tiao‑Zhou. "集韵 聲類 考" Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique 3, no. 2 (1928): 159–238.
Bai, Tiao‑Zhou. "關中 聲調 實驗錄" Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique 4, no. 4 (1934): 447–488.
Baldi, Philip (de.). Patterns of Changes, Change of Patterns: Linguistic Change and Reconstruction Methodology. New York: Mouton de Gruyter, 1991.
Barker, Milton E. "Viet‑Muong Tone Correspondences" In Norman Zide (ed.), Studies in Comparative Austroasiatic Linguistics. The Hague: Mouton, 1966.
Benedict, Paul K. Austro‑Thai Language and Culture (With a Glossary of Roots). HRAF Press, 1975.
Baxter, William H. III. "Zhou and Han Phonology in Shijing" In William G. Boltz and Michael C. Shapiro (eds.), Studies in the Historical Phonology of Asian Languages. Amsterdam: John Benjamins, 1991.
Bình Nguyên Lộc. Nguồn gốc Mã Lai của Dân tộc Việt Nam. Los Alamitos: Xuân Thu, 1987 [orig. Saigon: Bách Bộc, 1971].
Bloomfield, Leonard. Language. New York: Henry Holt, 1933.
Bo Yang. Zizhi Tongjian (Modern Chinese edition, 72 vols.). Taipei: Yuan‑Liou Publishing, 1983–1993.
Bo Yang. "醜陋 的 中國人"(The Ugly Chinaman). Taipei: Yuan‑Liou Publishing, 1985.
Bodman, Nicholas C. "Proto‑Chinese and Sino‑Tibetan" In Frans Van Coetsem et al. (eds.), Contributions to Historical Linguistics. Leiden: Brill, 1980.
Boltz, William G. "Old Chinese Terrestrial Names in Saek" In William G. Boltz and Michael C. Shapiro (eds.), Studies in the Historical Phonology of Asian Languages. Amsterdam: John Benjamins, 1991.
Boodberg, Peter A. Selected Works of Peter A. Boodberg. Compiled by Alvin P. Cohen. Berkeley: University of California Press, 1979.
Breton, Roland J.‑L. Geolinguistics: Language Dynamics and Ethnolinguistic Geography. Ottawa: University of Ottawa Press, 1991.
Brodrick, Alan Houghton. Little China: The Annamese Lands. London: Oxford University Press, 1942.
Buck, Pearl. Impératrice de Chine (Imperial Woman). Paris: Le Livre de Poche, 1992 [orig. 1956].
Bùi Thanh Khiên. Nghệ thuật Nói lái. Ho Chi Minh City: NXB Tổng hợp, 2017.
Bynon, Theodora. Historical Linguistics. Cambridge: Cambridge University Press, 1977.
Camus, Albert. L’étranger. Paris: Gallimard, 1942.
Cao Xuân‑Hạo. Tiếng Việt Văn Việt Người Việt. Ho Chi Minh City: NXB Trẻ, 2001.
Chao Yuan‑Ren. "The Non‑Uniqueness of Phonemic Solutions of Phonetic Systems" Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique 4, no. 4 (1933): 363–398.
Chao Yuan‑Ren. "Tone and Intonation in Chinese" Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique 4, no. 2 (1933): 119–134.
Chen Guo‑hong. 成語 辭典 (Chinese Idioms Dictionary). Hunan: Yuelu Chubanshe, 1988.
Chen Yin‑Ke. "李唐氏族之推測" Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique 3, no. 1 (1928): 38–48.
Chen Yin‑Ke. "李唐 氏族 之 推測 後記" Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique 3, no. 4 (1928): 511–516.
Chou Fa‑Kao et al. 漢字古今音彙 (Hanzi Gujin Yinhui). Hong Kong: Chinese University of Hong Kong, 1973.
Chou Fa‑Kao. "Monosyllabics of Chinese Reconsidered" Tsing‑hua Journal of Chinese Studies 14, no. 1–2 (1982): 105–110.
Coblin, W. South. "Notes on Western Han Initials" Tsing‑hua Journal of Chinese Studies 14, no. 1–2 (1982): 111–132.
Coblin, W. South. A Handbook of Eastern Han Sound Glosses. Hong Kong: Chinese University Press, 1983.
Coetsem, Frans Van and Linda Waugh (eds.). Contributions to Historical Linguistics. Leiden: Brill, 1980.
Cohen, Alvin P. Selected Works of Peter A. Boodberg. Berkeley: University of California Press, 1979.
Darwin, Charles. On the Origin of Species. London: 1859 [150th Anniversary Edition, Bridge Logos Foundation, 2009].
De Lacouperie, Terrien. The Languages of China Before the Chinese. London: 1887 [Taiwan reprint, 1966].
Delinger, B. Paul. "The Ch’ung Niu Problem and Vietnamese" Tsing‑hua Journal of Chinese Studies 11, no. 1–2 (1979): 217–227.
Ding Bangxin (ed.). 中國 語言學 論集 (Collection of Surveys of Chinese Linguistics). Taipei: You Shi Wenhua, 1977.
Ding Shan. "宗法考源" Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique 4, no. 4 (1934): 399–416.
Dong Zuo‑Bin. "殷曆 中 幾個 重要 問題" Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique 4, no. 3 (1933): 331–353.
Dong Zuo‑Bin. "譠" Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique 4, no. 2 (1933): 159–174.
Dragunow, A. "對於 中國 古音 重訂 的 貢獻" Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique 3, no. 2 (1928): 295–307.
Drake, F. S. (ed.). Symposium on Historical Archaeological and Linguistic Studies on Southern China, South‑East Asia and the Hong Kong Region. Hong Kong: Hong Kong University Press, 1967.
Đào Trọng Đủ. Traugiồi TiếngViệt (Vietnamese Revisited). Toronto: Quê Hương, 1983.
Đỗ Hoàng Diệu. Lưng Rồng (Bóng Đè và những truyện mới). Hanoi: Nhã Nam, 2018.
CHÚTHÍCH
(1)^ Ngữhệ NamÁ (Austroasiatic, hay Austro‑Asiatic), trong các
phânloại gầnđây thườngđượcxemlà đồngnghĩa với Môn‑Khmer, là một
ngữhệ lớn của lụcđịa ĐôngnamÁ, đồngthời rải rác tại Ấnđộ,
Bangladesh và vùng biên giới phíaNam của Trunghoa. Têngọi
Austroasiatic bắtnguồn từ tiếng Latin với nghĩa “phươngNam” và
“châuÁ”, tức “NamÁ”. Trong số các ngônngữ thuộc họ này, chỉcó
Khmer, tiếngViệt và Mon là có lịchsử vănbản lâuđời; và chỉ
tiếngViệt cùng tiếng Khmer có địavị chínhthức (tươngứng tại
Việtnam và Cambốt). Các ngônngữ cònlại chủyếu do những
cộngđồng thiểusố sửdụng.
Theo Ethnologue, ngữhệ NamÁ gồm 168 ngônngữ, được chia thành mườiba
phânnhánh (và cóthể thêm Shompen – tưliệu rấtít – như phânnhánh thứmườibốn). Truyềnthống thường gom chúng thành hai nhóm lớn:
Môn‑Khmer và Munda. Tuyvậy, các phânloại gầnđây đã bỏ kháinệm
Môn‑Khmer như một đơnvị phânloại độclập, hoặc thuhẹp phạmvi, hoặc
xem nó đồngnhất với toànbộ ngữhệ NamÁ.
Ngônngữ NamÁ có phânbố rờirạc tại Ấnđộ, Bangladesh và ĐôngnamÁ, bị
ngắtquãng bởi các vùng nói ngônngữ khác. Chúng đượcxemlà lớp
ngônngữ bảnđịa cổ nhất của ĐôngnamÁ, trongkhi các ngônngữ Ấnđộ,
Thái, Dravidian, NamÁ và Hán‑Tạng là kếtquả của những lànsóng
dicư muộn hơn (Sidwell & Blench 2011). (Nguồn: Wikipedia – Austroasiatic languages)
(2)^ Đềxuất đầutiên về quanhệ huyếtthống giữa các ngữhệ này do Paul
Benedict nêura năm 1942 và được ông mởrộng đến năm 1990. Đềxuất
này là sự mởrộng của “siêu‑hệ Namđảo (Austric)” do Wilhelm Schmidt đềxuất,
chorằng Thái‑Kadai và NamĐảo là hai nhánh chị‑em trong Namđảo (Austric).
Benedict chấpnhận môhình này. vềsau, ông từbỏ Namđảo (Austric) nhưng vẫn
giữ đềxuất Austro‑Tai. Đềxuất này gây nhiều tranhcãi, đặcbiệt sau
khi Benedict (1975) côngbố các phụcchế bị xemlà thiếu quychuẩn.
Thurgood (1994) phântích và kếtluận rằng vì các đốiứng âm và
tiếnhoá thanhđiệu không đềuđặn, khôngcó bằngchứng cho quanhệ
huyếtthống; các đồngnguyên cóthể chỉlà kếtquả của tiếpxúc ngônngữ
sớm.
Tuyvậy, việc nhiều đồngnguyên Austro‑Tai xuất hiện trong tầng
từvựng cơbản – vốn thường khó vaymượn – vẫn khiến các họcgiả quan
tâm. Những tiếnbộ sau này vượt lên phươngpháp của Benedict: từbỏ
Namđảo (Austric); tậptrung vào phụcchế từvựng và đốiứng ngữâm đềuđặn; bổsung
dữliệu từ các nhánh Thái‑Kadai khác như Hlai và Kra; sửdụng
phụcchế Thái‑Kadai tốt hơn; và xemxét lại bảnchất quanhệ,
trongđó Thái‑Kadai cóthể là một nhánh (con) của Namđảo.
(Source: Wikipedia – Austroasiatic languages)
(3)^ Xem Ilia Peiros's Some Thoughts on the Problem of the Austro-Asiatic Homeland
(4)^ Têngọi “Việtnam” [viə̀tnaːm] là biếnthể của “NamViệt” (南越
Nányuè, nghĩalà “ngườiViệt phươngNam”), một têngọi cóthể truyvề đời
Triệu (thếkỷ 2 TCN). Tên "Việt" vốnlà dạngrútgọn của BáchViệt
(百越 BǎiYuè - Bod), chỉ một nhóm các dântộc cưtrú tại miềnNam Trunghoa và miềnBắc Việtnam cổ. Dạng “越南” (Việtnam) lầnđầu xuấthiện trong bàisấm thếkỷ 16 Sấm Trạng Trình. Têngọi này cũngđược tìmthấy trên 12
biađá thếkỷ 16–17, trongđó có bia Chùa Bảolâm (Hảiphòng) niênđại
1558.
Từ 1804 đến 1813, têngọi này được dùng chínhthức dưới Triều Vua Gia Long. Đầu thếkỷ 20, nhàcáchmạng Phan Bội Châu phụchồi têngọi này trong
Việtnam Vongquốc Sử, và sauđó được Việtnam Quốcdânđảng sửdụng.
Trước 1945, nước Việtnam thườngđượcgọilà Annam; đến năm 1945, cả
triềuđình Huế và chínhphủ Việtminh đều dùng têngọi Việtnam. Saukhi chữHán bị bãibỏ năm 1918, dạng chữquốcngữ “Việtnam” đã trởthành chínhthức.
(Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnam

