Thursday, November 20, 2025

Disản Kép của TiếngViệt

Tầngnền Việt và Tầngphủ Hán


by dchph in collaboration with Copilot




TiếngViệt thườngđược xếpvào ngữhệ NamÁ. Tuynhiên, chính têngọi Việtnam, nghĩalà ‘ngườiViệt phươngNam’, đã baohàm sựdunghợp giữa disản vănhoá‑ngônngữ Việt và Hán, lại gợimở một câuchuyện sâuxahơn. Từlâu trướckhi hai triềuđại Tần và Hán hợpnhất vùngđất mà ngàynay gọi là ‘Trungquốc’, các cộngđồng Việt ở Lĩnhnam và Đồngbằng SôngHồng đã địnhhình sinhthái ngônngữ của khuvực. Bàiviết này chorằng tiếngViệt nênđược hiểunhư một ngônngữ có gốc Việt, được tíchhợp với Hán, chứ khôngphải là một dịbiệt bênlề của nhóm Môn‑Khmer.

Bàiviết này lầntheo nguồngốc Hán‑Việt đến các cưdân bảnđịa Việt, những người tiền-Hán ở miềnnam Trungquốc và miềnbắc Việtnam. Đónggóp ngônngữ của họ vào các ngữhệ tiền-Việt và ngữchi Taic‑Kadai, đã tạonên tầngnền của nó, trênđó các lớp Hán sau này đắp chồnglên.

I) Nềntảng Việt

Bằngchứng khảocổ và sửliệu sớm cùng trụlại một bứctranh duynhất: các cộngđồng BáchViệt đã sinhsống ở miềnnam Trungquốc và Đồngbằng SôngHồng hàng thếkỷ trướckhi nhàTần hợpnhất. Ngônngữ của họ đã đónggóp những môhình âmvị cơbản, từvựng cơbản và thóiquen cúpháp, tạonên nềntảng tiền-Việt, đặtkhung cấutrúc để các lớp Hán chồnglên saunày.

Các cưdân tiền-Hán thuộc nhóm BáchViệt đã đóngvaitrò như những ‘kiếntrứcsư ngônngữ’ của tiền-Việt, cungcấp các khối âmvị và ngữnghĩa, rồi tiếpxúc và tiếpthu từvựng Háncổ và Hán Trungcổ qua nhiều đợt. Chính tộcngữ ‘Việtnam’ đã mãhoá disản kép này, biểuđạt sựliêntục vănhoá qua các môhình nhànước kếtiếp.

Phânloại truyềnthống thường xếp tiếngViệt vào nhánh Môn-Khmer của NamÁ. Bàiviết này xemxét lại cách phânloại đó bằngcách chỉra những tươngứng hệthống về âmvị và ngữnghĩa với tiếngHán, và rộnghơnnữa là các ngônngữ trong ngữhệ Hán-Tạng, chorằng nhiều đặcđiểm mà các họcgiả Âu-Mỹ trướckia gộplại thành ‘NamÁ’, thựcsự thựcthể đó phảnánh nhóm ngônngữ Việt (Yue) tiền-Hán ở Hoanam (華南), chứ không thuầnnhất là một disản Môn-Khmer.

Bảng 1  Dòng dicư và sựdunghợp

Thờikỳ Sựkiện Tácđộng ngônngữ
Tiền‑Tần-Hán Việt + tiền-Tạng kếthợp Hìnhthành phứcthể Hán‑Tạng
111 TCN Hán thôntính NamViệt Từvựng Háncổ đivào ngữhệ Việt
Thời NhàĐường Ảnhhưởng Hán Trungcổ Chuẩnhoá từvựng Hán-Việt
939 SCN Độclập khỏi NamHán Phântách tiếng Annam và QuảngĐông
TK 10–21 Các đợt dicư liêntiếp Hỗnhợp sắctộc, hìnhthành dântộc Kinh

Các nhóm Môn-Khmer đã dicư vào Đồngbằng SôngHồng khoảng 6000 năm trước, nhưng từvựng của họ giốngvới tiếngViệt chủyếu qua tiếpxúc vềsau. Tầngsâu của tiếngViệt — môhình thanhđiệu, cấutrúc đaâmtiết, và cốtlõi từnguyên — lại gắnkết chặtchẽ hơn với Việt và HánTạng.

Sựdunghợp giữa cưdân Taic-Việt (Taic-Yue) bảnđịa với những người dicư tiềnTạng đã tạora một phứcthể dântộc-ngônngữ (tộcngữ)(*) mởrộng, gópphần vào vànhđai Hán-Tạng. Từ những tiếpxúc lâudài này đã xuấthiện nềntảng dâncư theo cáchphânloại truyềnthống thườngđược gắnkết với các dònghọ tiền-Hán sớmnhất, những người kếthừa chínhtrị của họ vềsau được họcgiả hồicố liênkết chúng với các nền vănhoá đồngthau có niênđại gần 5000 năm.

Để rõràng choviệc phântích, tácgiả dùng ‘Taic’ (‘Thái’ —  phạmtrù nầy lớnhơn tộcThái của nước Tháilan hiệnđại) như một thuậtngữ baoquát để chỉ cưdân bảnđịa trongvùng. Đếntừ phứcthể này đã xuấthiện các nhóm Daic-Kadai (Tày), cộngđồng BáchViệt, và những nhântố khách saunày lại được xếpvào Môn-Khmer NamÁ. Các đợt dicư tiếptheo đã đưavào thànhphần tiền-Tạng và những yếutố khác; môhình dântộc của nhànước Hán tựnó đã kếttinh qua sựdunghợp của Taic + Việt (Yue) + HánTạng. Hìnhthức tộcngữ Việt vìthế phảnánh sựtổnghợp hơnlà một dòngdõi tuyếntính.

Dựatrên bằngchứng từvựng và cổvật, cộngđồng BáchViệt rõràng đã hiệndiện trướckhi các đặctrưng Hán cốtlõi được dunhập. Vănhoá vậtchất, như têngọi mườihai congiáp, và những từvựng tươngứng — vídụ /krong/ (‘sông’) ~ 江 jiāng (‘giang’, như tên Dươngtửgiang, 'Yangzijiang') đốilập với têngọi Hoànghà (黃河 Huánghé) — đã bảotồn đường ranhgiới vạchra giữa Việt và Hán, đồngthời giữlại lớp từvựng tầngnền trong tiếngViệt hiệnđại. (1)

II) Sựdunghợp với nhântố Hán

Việcthôntính NamViệt (南 越) của nhàHán ở vùng Hoanam thuộc miềnnam Trungquốc ngàynay đã không xoábỏđược tiếngViệt bảnđịa ở Giaochỉ ‘Namman’. Thayvàođó, sựkiện nầy tạonên sự chồnglớp từvựng Háncổ trên nềntảng Việt, tạora một hệsinhthái từngmảng. Nhưvậy các từvựng Háncổ đã dunhập vào tiếngViệtcổ trong thờikỳ đầu Bắcthuộc, và vềsau lớp từvựng Hán Trungcổ (Hán-Việt) chuẩnhoá  đời NhàĐường đã cungcấp cáivốn cho các lĩnhvực hànhchính và vănchương.

NhàHán tựnó là một gắnkết từ nướcSở, đólà một nhànước ‘Daic-Yue’ (‘Tày-Việt’), như binhsĩ của nước nầy gồm những binhsĩ nướcSở. Lưu Bang (劉邦 Líu Bāng), vị hoàngđế sánglập nhàHán, đã từng nói tiếngSở, vốnlà một phươngngữ Taic-Daic (‘Thái-Tày’). Các nhómngười BáchViệt và ‘Choang’ (‘Tráng’) ở vùng Hoanam đã tiếpthu thứ ngônngữ chung này saukhi bị thôntính.

Tuyvậy những từnguyên gốcViệt vẫncòn tồntại, được bảotồn ngaycả trong tầng Hán của lớp từvựng cơbản tiếngViệt. Vídụ gồmcó ‘voi’ < 為 wēi (HV 'vi'), ‘chuột’ < 鼠 shǔ (HV 'thử'), và ‘’ < 牝 bìn (HV 'tẫn'). Tươngtự, tầng HánViệt (HV) hìnhthành chủyếu thôngqua tiếpxúc thuộcđịa từ thời nhàHán rồi tiếptheo là ảnhhưởng thờikỳ nhàĐường, sinhra những từ như ‘’ < 雞 jī (HV ''), ‘buồng’ < 房 fáng (HV 'phòng'), ‘chàilưới’ < 羅 luó (HN 'chài'+'lưới' ), và ‘cỗxe’ < 車 chē (HN 'cỗ'+'xe').

Về mặt xãhội ngônngữ, ngữtầng Việt đã địnhhình những thóiquen cấutrúc, vídụ như trậttự âmtiết và chiềuhướng pháttriển đaâmtiết, vốn vẫncòn tồntại ngaycả khi từvựng Hán Trungcổ được bảnđịahoá. Điều này giảithích vìsao nhiều từ gốcHán trong tiếngViệt vừa biếnđổi về ngữâm vừa biếnđổi về ngữnghĩa: chúng là kếtquả của sự thíchnhập tầnglớp, khôngphải sựsailệch tuỳtiện.

Tổngthể, những sựkiện này khiến chúngta cần xemxétlại tiếngViệt với tưcách một ngônngữ có disản hai tầng: một tầngnền gốcViệt đanxen với các lớptầng Hán tiếptheo. Việc côngnhận bảnchất kép này giúp phântích vượt rangoài danhsách từvựng vaymượn, tiếntới một cáchnhìn tíchhợp về tiếpxúc, hộinhập, và quátrình tổnghợp cấutrúc lâudài trong sự hìnhthành tiếngViệt hiệnđại.

Bảng 2 – Luồng dicư tiền-Tạng và sựtiếpxúc với nướcThục


Các nhóm tiền‑Tạng đượccholà có nguồngốc từ vùng caonguyên tâynam TrungQuốc, đặcbiệt ở những khuvực giápgiới Vânnam và Tứxuyên hiệnđại.

NướcThục (蜀國), nằm ở vùng trungtâm Tứxuyên, nổitiếng với vănhoá đồngthau sớm và dữkiện ngônngữ đặcthù. Các pháthiện khảocổ từ những dichỉ như TamtinhđôiKimsa chothấy những tổhợp vậtchất khôngliênquan đến vănhoá Trungnguyên, gợiý sựviệc tiếpxúc với các cộngđồng vùngcao.

Môhình dicư được suyra từ kiểu mồmả và loạihình đồgốm chothấy sựdịchchuyển về phíabắc dọctheo các nhánhsông Dươngtửgiang phùhợp với nhậnđịnh chung. Các dichỉ khảocổ biệtlập ở Tứxuyên và vùng lâncận chothấy bằngchứng về sựgiánđoạn vănhoá, những biếnđổi độtngột trong vậtthể dichỉ gợiý sự thaythế hoặc tuyệtchủng dâncư.

Những tổhợp này thường baogồm hiệnvật phi‑Hán, như mặtnạ cáchđiệu, đồđồng nghilễ, và các dạng đồgốm độcđáo. Sự tuyệtchủng ngônngữ được suyra từ việc khôngcó hậuduệ trựchệ nốitiếp các ngônngữ Hán‑Tạng hiệnđại, dù ảnhhưởng tầngnền cóthể vẫncòn trong ngữâm và cúpháp.


III) Trungquốc trướckhi có ngườiHán

Vào thờikỳ xaxưa hơn, các nhóm tiền‑Tạng có nguồngốc từ vùng caonguyên tâynam đã tiếpxúc với những cộngđồng bảnđịa giápgiới nướcThục (蜀國) thuộc Tứxuyên thuộc Trungquốc ngàynay trướckhi họ dicư về phíabắc. Những chuyểndịch này đitheo các nhánhsông Dươngtử, và các tổhợp khảocổ biệtlập dọctheo những hànhlang này chothấy mộtsố cộngđồng vềsau đã biếnmất mà không đểlại dấuvết nào chothấy họ là hậuduệ trựctiếp nói cùng thứtiếng.

Truyềnthuyết và sửliệu sớm ghilại sựtrỗidậy của nhàÂn (殷朝, 1600 TCN–1046 TCN) và vềsau là thểchế nhànước đời Thương. Từ khoảng 1225 TCN đến 1220 TCN, ngườiÂn đượccholà đã mởrộng ảnhhưởng xuống vùng Annam cổ. Trong hơn 2000 năm tiếptheo, các nhóm tiền‑Hán nhậpcư đã hoànhập với cộngđồng Taic‑Việt, tạora một matrận tộcngữ phứchợp có trướckhi các nhànước Tiền-Tần và nhàHán đãđược củngcố.

Trong vànhđai Việt, có những dònghọ chiasẻ tầngnền Taic với các thuỷtổ của nướcSở; cộngđồng Choang cổ đã gópphần vào sự hìnhthành cả nướcViệt (越國) và nướcĐôngViệt (東越). Khi các nhànước vùng Hoabắc mởrộng, cộngđồng BáchViệt bị dờichuyển và đẩy về phíanam. Sự dunghợp Tần‑Việt và dâncư của những đợt phânbố vềsau dọctheo nhiều hànhlang — từ vùng Vânnam ngàynay lên  Hồbắc, qua Giangtây, Giangtô, Triếtgiang, rồi xuống Phúckiến — cuốicùng đến những vùng sâu phươngnam liênquan đến giảthuyết NamÁ, Namđảo, NamÁ‑Thái đặtđể vềsau.

Trong toànbộ vànhđai này, các ngônngữ cho thấy những tươngđồng cóthể chứngminh sựkhácbiệt bềngoài thường chỉ phảnánh têngọi khácnhau mà các họcgiả vềsau đã đặtra. Trong cáchphânloại hiệnđại, các thứ tiếng thườngđược gọilà ‘phươngngữ Hán’ được xếpvào ngữhệ Hán‑Tạng khôngphải vì Hán cótrước Việt, mà vì chúng nằm trong phạmvi ngữhệ Hán‑Tạng. Tươngtự, têngọi BáchViệt (百越 BǎiYuè) không chỉđịnh một cộngđồng tộcngữ đồngnhất mà nó baogồm ĐôngViệt (東越 DōngYuè) ở Chiếtgiang và NamViệt (南越 NánYuè) ở Quảngđông là những nước vùngmiền khácbiệt, đềucó nguồngốc từ tầngnền Taic chung.

Nguồngốc chung này giảithích sựtồntại những đặctrưng tầngnền và nhiều từđồngnguyên được bảotồn trong sửliệu cổ, trongđó có những từđôi còn lưulại trong Tựđiển Khanghy. Vídụ: 淂 dé (HV ‘đắc’, HN ‘nước’) xuấthiện bêncạnh từgốc đanghĩa cơbản 水 shuǐ (HV ‘thuỷ’, HN ‘nước’) với trườngnghĩa chồnglấn. Những cặptừ nhưvậy bảotồn dấuvết của ngônngữ bảnđịa cổ của các nước  Thục (蜀國), Sở (楚國), Việt (越國), và NamViệt (南越王國) vềsau bị sápnhập vào hệthống đếquốc và phảnánh các liênminh tộcngữ phứchợp từng tồntại ởđó, gồm LạcViệt (雒越), TâyÂu (西甌), ÂuViệt (歐越), ĐôngÂu (東甌), và MânViệt (閩越).

Bảng 3 – ÂuViệt (甌越)

ÂuViệt, hay OuYue (甌越), là một liênminh tộcngữ BáchViệt cổ, sinhsống ở vùngnúi phía bắc Việtnam, tây Quảngđông, và bắc Quảngtây (Trungquốc), ítnhất là từ thếkỷ thứba TCN. Tiếngnói của họ đượccholà thuộc ngữhệ Tai‑Kadai. Ở miềnđông Trungquốc, ÂuViệt đã thiếtlập nước ĐôngÂu (東甌). TâyÂu (西甌, ‘Tây’ nghĩa là ‘phíatây’) là những bộtộc BáchViệt khác, để tócngắn, xâmtay,  nhuộmrăng đen, và là tổtiên của các cộngđồng thiểusố nói tiếng Tai ở vùngnúi Việtnam như Nùng và Tày, cũng như người Choang và Daic ở Quảngtây.

ÂuViệt buônbán với LạcViệt, cưdân của nước Vănlang, nằm ở đồngbằng phíanam ÂuViệt, tức vùng châuthổ sông Hồng ngàynay, cho đến năm 258 hoặc 257 TCN, khi Thục Phán, thủlĩnh của một liênminh bộtộc ÂuViệt, đã xâmchiếm Vănlang và đánhbại vị Hùngvương cuốicùng. Ông đặt tênnước mới là “ÂuLạc”, xưng mình là “Andươngvương” (安陽王, nghĩa là ‘Vua Andương’). Nguồngốc của Thục Phán khôngrõ. Theo sửliệu Việtnam truyềnthống, ông là hoàngtử hoặc vua của nước Thục (蜀國) ở Tứxuyên.

Tuynhiên, nước Thục đã bị Tần thôntính vào năm 316 TCN, khiến giảthuyết Thục Phán là hoàngtộc nước Thục 100 năm sau trởnên khócó khảnăng. Cóthể câuchuyện vẫncó giátrị nàođó do bằngchứng khảocổ về liênhệ vănhoá giữa Vânnam và tiền‑Việt, nhưng cólẽ vì khoảngcách thờigian giữa lúc câuchuyện phátsinh và lúc nó được ghilại, địađiểm đã bị thayđổi thành Thục hoặc đơnthuần là nhầmlẫn do kiếnthức địalý sai.

Theo một truyện truyềnmiệng của ngườiTày được dịch, phầnđất phíatây của ÂuViệt đã trởthành nước Namcương, có kinhđô ở vùng Caobằng (Việtnam). Thục Phán xuấtthân chính tạiđó. Tínhxácthực của truyện này bị một số sửgia nghingờ. Nó được côngbố năm 1963 dưới dạng bảndịch trongkhi khôngcó bảngốc bằng chữTày còn tồntại. Tên truyện chứa nhiều từ Việt với khácbiệt nhỏ về thanhđiệu và chínhtả hơn là từ Tai. Khôngrõ bảndịch này dựatrên vănbản nào.

Theo sửgia Trungquốc:

NhàTần đã thôntính nước Sở, thốngnhất Trungquốc. Tần bãibỏ địavị quýtộc của hậuduệ nước Việt. Vài năm sau, Tần Thỉhoàng đã phái 500.000 quân xâmchiếm TâyÂu. Sau ba năm, quân Tần giết thủlĩnh TâyÂu là Dịch Dụtống (譯籲宋). Tuyvậy, TâyÂu vẫn tiếnhành chiếntranh dukích chống Tần và giết tướng Tần là Đồ Tuy (屠睢) để trảthù.

Trướckhi nhàHán xâmchiếm, ĐôngÂu và TâyÂu giànhlại độclập. ĐôngÂu bị nước MânViệt tấncông, và Hán Vũđế đã chophép dân họ dờichuyển đến vùng giữa Sông Dươngtử và Sông Hoài. TâyÂu nộpcống cho NamViệt chođếnkhi bị Hán thôntính. Hậuduệ của các vua này vềsau mất địavị quýtộc. Các họ Âu (區), Âu (歐), và Âudương (歐陽) vẫn còn tồntại.

Theo sửgia Việtnam:

Năm 257 TCN, Andươngvương (安陽王) đã hợpnhất bộtộc LạcViệt (NamÁ) của các Hùngvương (雄王) với bộtộc ÂuViệt (Tai‑Kadai) thành một bộtộc duynhất — nước ÂuLạc.

Năm 208 TCN, Triệu Đà đã chiếm ÂuLạc và sápnhập nó vào nước NamViệt, vốn do nhàHán caiquản.


Trướckhi thếkỷ thứnhất TCN, thầndân nhàHán đã hìnhthành do sự dunghợp nhânchủng giữa các nhóm tiền‑Tạng và cộngđồng bảnđịa BáchViệt, tạora thànhphần cốtlõi của nước Tần. Dâncư này được hìnhthành từ sáu quốcgia cổ khác, trongđó có đónggóp đángkể từ cưdân nước Sở, gồm cả người Daic (Tày) và Việt (Yue).

Saukhi nước NamViệt bị sápnhập vào đếquốc Hán năm 111 TCN, các sắctộc ngườiViệt lại càng hoànhập với thầndân Hán, mởrộng phạmvị vượt rangoài vùng Lĩnhnam ở phíanam. Quátrình dunghợp này lặplại liêntục xuyênsuốt khônggian và thờigian.


Thànhphần tộcngữ của nhàHán cólẽ vẫn giữ sự dunghợp tỷlệ tươngtự như đặctrưng của tiếng nước Sở vào lúc đếquốc Hán hìnhthành, dù tổng dânsố đã giảm sau nhiều thậpkỷ chiếnchinh. Điều quantrọng là các nhântố Việt-Tày (Yue‑Daic) vẫncòn nổibật trong thầndân nhàHán saukhi nước Sở sụpđổ, vì bảnthân Sở vốncó nguồngốc là một vươngquốc Daic (ngườiTày). Sựliêntục này có ýnghĩa: hoàngđế sánglập Lưu Bang (劉邦) và nhiều tướnglĩnh cùng binhsĩ dướitrướng của ông vốnlà những chiếnbinh của nước Sở, họ đã cùng khángcự quân Tần cho đếnkhi nhàHán lậpnước. Xuấtxứ đó có hàmý quantrọng về mặt sửtộc.

Tên gọi “Hán” và các danhxưng liênquan bắtnguồn từ têngọi Hántrung (漢中), nay thuộc một vùng hẻolánh của Tỉnh Thiểmtây. Lưu Bang đãđược Hạng Võ (項羽), vị côngtước cuốicùng thaymặt cho vị vua cuốicùng của nước Sở, bổnhiệm làm Hántrungvương; vềsau hai vị tướngquân này đã giaochiến trong cuộc Hán-Sở Tranhhùng (楚漢戰爭, 206–202 TCN). Sau khi Lưu Bang đánhthắng Hạng Võ, phe thắngtrận đã táchkhỏi bảndanh nước Sở và tựxưng là ‘ngườiHán’, tức những người đitheo Hántrungvương(2)

Nhưvậy, các thựcthể ‘Hán’ xuấthiện đồngthời với những têngọi khác của ‘Tần’, như ‘Tàu’, ‘Tàuô’ — vốn là âmcổ của ‘Qin’ và vềsau chora các dạng ‘Chine’, ‘Sinitic’, ‘Sino’, ‘China’. Những têngọi thaythế như ‘Cathay’, ‘Đường’, hay ‘Thanh’ đãđược dùng trong nhiều thờikỳ khácnhau, nhưng tấtcả những têngọi này chekhuất thựctế rằng thầndân nước Hán vốnlà một kếtcấu chắpvá, được thốngnhất bằng quátrình hìnhthành nhànước và sự dunghợp vùngmiền lâudài, chứ khôngphải bởi một nguồngốc tộcngữ duynhất. 


 


Hình 1: Bảnđồ lãnhthổ các triềudại ở Trungquốc
Source: https://en.wikipedia.org/wiki/File:Territories_of_Dynasties_in_China.gif

Hơn 4000 sau, thầndân của nước Tần (秦國, 206 TCN) mới thốngnhất đã baogồm cả cộngđồng Tai‑Daic của nước Sở (楚國) cùng với hậuduệ Việt, vềsau hìnhthành nước Việt (越國) và chưhầu nước Ngô (吳國). Sửliệu Trungquốc về thờikỳ Xuânthu (770–476 TCN) và Chiếnquốc (475–221 TCN) ghilại rằng các nhànước phươngnam này đã tồntại trong quanhệ triềucống lâuđời trước triềuđại TâyChu.

Khi nhàHán thaythế Tần và củngcố quyềnlực trênđất Trunghoa, họ đã ápđặt một ngônngữ quantriều chínhthức. (3) Ngônngữ ấy, vốnđược cholà do Lưu Bang (劉邦) vị hoàngđế sánglập nhàHán sửdụng, có khảnăng là một phươngngữ Sở, tức một tiếng Tai‑Kadai-Daic phảnánh nguồngốc của vị vua nầy trong lãnhthổ nước Sở. Saukhi nước NamViệt bị sápnhập, các nhóm Việt phươngnam cùng cộngđồng tổtiên Choang đã tiếpthu thứ ngônngữ chung này dưới sựcaitrị của triềuđình. Trong tổhợp NamViệt, chữ Nam 南 nghĩalà ‘phíanam’ và chữ Yue 越 nghĩalà ‘Việt’, một sựtươngứng ngữâm được chứngthực trong cả tiếng LạcViệt cổ và tiếng ĐôngViệt (Quảngđông cổ) xưa.

Nhiều từcăn chung của Việt cóthể truyngược về thờitiềnsử vào thờiđiểm các ngônngữ tiền‑Tạng tiếpxúc với Việt nguyênthuỷ pháttriển thành tiếng Việt‑Mường vềsau, vốncó gốctừ tầngnền Taic. Tiền‑Việt từng được nói rộngkhắp vùng Hoanam Trungquốc, phạmvi của nó mởrộng đến các vùng ven Sông Dươngtử, vốnlà quêhương tựnhiên của các cộngđồng Taic cổ. Những dâncư bảnđịa này đã hợpnhất thành các nhóm phươngnam đadạng gọilà ‘Bod’ (4), với một danhxưng lịchsử baoquát BáchViệt (百越 BǎiYuè).

IV) Sựdunghợp ảnhhưởng tiếngHán

Trong trườnghợp Việtnam, những đợt dicư liêntiếp theo hướng bắcnam trên cả quymô địalý và lịch‑sử đã đẩy các cộngđồng bảnđịa từ vùng đồngbằng màumỡ lên những khuvực núinon kém phìnhiêu. Sau thờikỳ Tần‑Hán, những người dicư từ Hoanam mangtheo tiếngnói riêng của họ, và trong thiênniênkỷ tiếptheo, các ngônngữ này đã hoànhập với những tiếng Taic‑Việt địaphương, gồmcả tiếng Dai (Tày), Thái, Nùng, và các phươngngữ Việt‑Mường khác. 

Trước năm 939, khi cả Annam và Quảngđông còn thuộc Đếquốc NamHán (南漢 帝國), cưdân của họ dườngnhư vẫn hiểubiết lẫnnhau, ítnhất là thôngqua một thứ tiếng Quanthoại vùngmiền. Trong thờikỳ này, các họcgiả Annam đã thamgia vào bộmáy hànhchính và sángtác vănchương tại vươngtriều nhàĐường. Tưliệu vănchương và sựxuấthiện của kho từvựng Hán‑Việt (漢越) được  hoànchỉnh, truyền từ tiếngHán Trungcổ trong thếkỷ cuốicùng của nhàĐường, đã chứngthực cho sựdunghợp này.

Nguồn sửliệu cũng chothấy rằng những đợt dicư quymô lớn từ Hoanam vào ‘Annam’ đã xảyra khôngchỉ trong thiênniênkỷ Bắcthuộc (111 TCN–939 SCN), mà còn tiếptục trong các thếkỷ sau, thậmchí vượtqua năm 1949 và sang tận thếkỷ 21, khi những người laođộng Trungquốc lập nên các khuphố Tàu ‘Chinatown’ trênkhắp Việtnam.

Sự chuyểntiếp ngônngữ dễdàng này là một hiệntượng đặcbiệt nếu sosánh với cùng sựkiện xảyra ở các cộngđồng nói tiếng Mon‑Khmer — ngoạitrừ việc ảnhhưởng muộn qua việctiếpxúc với các nhóm Mường lánggiềng chỉlà mộtphần nhỏ. Những cộngđồng này, vốndĩ đã táchkhỏi các nhóm Việt‑Mường cổ chốnglại sựđôhộ của nhàHán, đã rútlên vùng rừngnúi và cùng tồntại với người Môn‑Khmer. Sựtiếpxúc của họ đã táchbiệt những điểmchung đặcthù của tiếngViệt vùng đồngbằng khỏi từvựng Môn‑Khmer, mà sựgiốngnhau chỉ xuấthiện vềsau do tiếpxúc muộn. Bằngchứng khảocổ và sửliệu chothấy rằng các nhóm Môn‑Khmer đã dicư vào Châuthổ Sông Hồng khoảng 6000 năm trước (Nguyễn Ngọc San 1993, tr. 43).

Theo thờigian, tiếng Annam bảnđịa chỉ giữlại mộtphần hạnchế các nhântố Việt cổđại nguyênthuỷ. Quátrình lâudài hìnhthành quốcgia Việtnam bắtđầu từ thànhphần hỗnhợp của dâncư sơkhai, vốn xuấtthân từ các cộngđồng Việt, LạcViệt, TâyLạc, và ÂuLạc của nước NamViệt. Vìvậy, khócó khảnăng rằng tổtiên của ngườiViệt vẫncòn là những bộtộc Việt thuầnchủng, ngaycả trướckhi trảiqua 1004 năm Bắcthuộc kếtthúc vào năm 939 SCN. (5)

Những đặctrưng ngônngữ do các cộngđồng dicư mangđến — các môhình thanhđiệu và đặcđiểm ngữâm tiêubiểu của tiếng Quảngđông, Hảinam, Triềuchâu, Amoy, và Phúckiến — đã đivào tiếngAnnam như những thànhphần cấutrúc tíchhợp chứkhôngphải chỉlà những lớpphủ bềngoài. Một quátrình thayđổi do tiếpxúc tươngtự quansát thấy trong sựpháttriển của tiếng Quảngđông.

Từ gócđộ ngônngữ, sự traođổi từvựng giữa cộngđồng bảnđịa và cộngđồng dicư đã khiến các nhântố Việt bảnđịa trởthành bổsung cho phạmvi Hán đang mởrộng, thayvì thaythế nềntảng của nó. Quátrình này cóthể sosánh rộngrãi với sựtiếpnhận từvựng Hán vào quátrình hìnhthành kháiniệm của tiếngNhật.

Sau khi giành độclập, cưdân Việtcổ — lúc đó được gọi là “ngườiAnnam” — đã thiếtlập một nhànước có chủquyền tươngứng với Việtnam hiệntại, nghĩalà ‘ngườiViệt phươngnam’. Cách hiểu này tráingược với quanđiểm nhầmlẫn cho rằng việtnam (南) cónghĩa là ‘vượtvề phíanam’, một sựnhầmlẫn bắtnguồn từ liênhệ ngữnghĩa với ‘tiến’ hay ‘vượt’. Các phiênâm Háncổ của Việt (越) bao gồm những chữ biếnthể như 戉, 粵, và 鉞, đều chỉ các loại dụngcụ hình rìu, và tấtcả đều liênquan đến ‘Việt’. Sựphânbiệt này táchrời căntính tộcdanh sơkhai khỏi sự mởrộng lãnhthổ vềsau từ thếkỷ thứ 10.

Qua nhiều thiênniênkỷ, và thôngqua những đợt dicư bắcnam lâudài từ một nhànước gọilà Vănlang — có khảnăng là phiênâm của âmcổ Binhlang 檳榔 Bīngláng [← ‘blau’ = ‘trầu’, sosánh 檳城 Bīnchéng (‘Bếnthành’ ~ ‘Penang’) hay ‘betel’], nằm ở bắc Việtnam — ngườiViệt vềsau đã hiệntồn như một cộngđồng hỗnhợp. Nguồngốc hỗnhợp này baogồm cả nhântố Chăm và Môn‑Khmer dọctheo hànhlang dicư. Bằngchứng khảocổ và nhânchủnghọc nhấtquán ủnghộ cáchnhìn này, chorằng quátrình hìnhthành tộcngữ Việtnam hiệntại là kếtquả của sự dunghợp tầnglớp chứ khôngphải sự truyềnthừa tuyếntính từ một nhóm duynhất nàođó ở bắc hay nam. (6)


Cũngnhư không có cộngđồng nào cóthể tựnhận là ‘thuầnHán’, thì cũng khôngcó dòngdõi ‘thuầnViệt’ hoàntoàn. Lịchsử Việtnam được đánhdấu bởi sựdunghợp giữa những ngườiHán dicư và các cộngđồng Việt phươngnam, nhiều nhóm xuấtphát từ vùng nam Trungquốc ngàynay. Chính tên gọi ‘Việtnam’ — nghĩa đúng là ‘ngườiViệt phươngnam’ — đã thểhiện disản chung này.
Khácvới các cộngđồng ngườiHoa ở những nơi khác trongvùng ĐôngnamÁ, ngườiHoa tại Việtnam hoànhập nhanhchóng; nhiềunhất chỉ trongvòng hai thếhệ, hậuduệ sinhra và lớnlên trên đất Việtnam thường tựnhận mình là Kinh trong sốliệu điềutra dânsố. Qua nhiều đợt địnhcư tiếptục theo hướngnam và sựhoànhập với các nhóm bảnđịa, những cộngđồng hỗnhợp này đã kếttụ thành đasố Kinh, vốn địnhhình nên Việtnam hiệntại.


Nhưđãnói, dâncư Annam sơkhai đã hìnhthành qua nhiều thếkỷ hỗnhợp giữa các nhóm Việt bảnđịa và những ngườiHán caitrị. Từ sự hỗnhợp phứctạp này đã xuấthiện cộngđồng ngườiKinh (京族 Jīngzú, HN 'tộcKinh'), hậuduệ của một quátrình hìnhthành tộcngữ tầnglớp. Sựtươngtác lâudài của các cộngđồng này trởthành một chủđề lặplại trong diễnđàn dântộc, đặcbiệt trong bốicảnh nhiều ngườiHán dicư đã trốnchạy biếnđộng trong các đổithay triềuđại ở Trungquốc, từ sựsụpđổ của nhàĐường vào thếkỷ 10 chođến sựtrỗidậy của chínhquyền cộngsản sau năm 1949, và họ đã địnhcư vĩnhviễn tại các vùng lãnhthổ phíanam.

Môhình nhânkhẩu này vẫn tiếptục cho đến hiệntại. Các báocáo chothấy rằng từ năm 1990, có trên một triệu người Trungquốc lụcđịa đã địnhcư lâudài tại Việtnam, theo sốliệu tổnghợp từ các hộinghị thườngniên của cộngđồng Hoakiều tại những thànhphố lớn của Việtnam.

Sựgắnkết lâudài về mặt lịchsử này giảithích cho những từcăn chung được dẫnxuất từ một tầngnền cổ, gần đếnmức mộtsố người đã nhầmlẫn chorằng từcăn Việt có nguồngốc từ tiếngQuảngđông. Thựctế, cả hai ngônngữ đều chiasẻ mộtphần disản lớn từ tiếngHán Trungcổ đờiĐường, được củngcố bởi những đợt dicư quymô trong cuộc nổiloạn An Lộcsơn (755–763), vốnđã tànphá vùng Trungnguyên và đẩy nhiều người phươngbắc xuống vùng Lĩnhnam. Vì lýdo này, các cộngđồng sơkhai của người nói tiếngQuảng hiệntại đã tựnhận mình cùng với những nhóm Hoakiều khác ở Việtnam là “ngườiHoa” (華人 Huárén), trongkhi ngườiViệt đượcgọi bằng tộcdanh “ngườiKinh”.




Hình 2: Bảnđồ lưuvực Sông Dươngtử
Source: http://en.wikipedia.org/wiki/File:Map_of_the_Yangtze_River.gif

Liênquan đến tiếngViệtcổ, sựphânhoá trong các nhóm Việt‑Mường đã tạora một ranhgiới xácquyết giữa những cộngđồng bảnđịa chốnglại sựđôhộ của TriềuHán trên đấttổ và những cộngđồng chấpnhận sựhợptác với ngườiHán caitrị.  Về phươngdiện ngônngữ, tươngtự như sựpháttriển của tiếngQuảngđông, các dạng tiền-Hán‑Việt đã được tíchhợp tíchcực vào tiếngViệtcổ, và theo thờigian đã pháttriển thành tiếngAnnam sơkhai. Quátrình này diễnra qua nhiều thếkỷ và đạtđỉnh vào thờikỳ tiếngViệt Trungcổ, đặcbiệt thôngqua sựtiếpthu các biếnthể ngônngữ ĐờiĐường bởi tầnglớp tinhhoa ngườiKinh đang hìnhthành. Nó baogồm sự bảnđịahoá từvựng và cáchdiễnđạt của tiếngHán Trungcổ, cùngvới những thayđổi dầndần, tinhvi về ngữâm, cúpháp, và ngữnghĩa.

Quátrình này có khảnăng đã bắtđầu trướckhi và tiếptục lâudài sau sựsụpđổ của nhàĐường (618–906). Nó baogồm sựthíchứng và bảnđịahoá kho từvựng Trungcổ trong các thờikỳ đôhộ, phùhợp với quátrình pháttriển rộnghơn của từvựnghọc Hánngữ một quỹđạo được địnhhình bởi những môhình kếttinh ngữâm và ngữnghĩa thayđổi qua các thờikỳ Hán và Đường (Tang Lan 1965, tr. 110).

Do cùng chiasẻ nềntảng lịchsử sâuđậm, các môhình biếnđổi ngữâm của Hán‑Việt và Quảngđông, vốn đều bắtnguồn từ tiếngHán Trungcổ, dườngnhư đã tiếptục theo những môhình ngữâm tươngtự trong cả vănviết lẫn vănnói. Sựtiếntriển songhành này kéodài ítnhất đến thếkỷ thứ 10, sauđó hai ngônngữ phânkỳ. Trong thờikỳ chung, cảhai đều sửdụng tiếngHán Trungcổ làm ngônngữ giaotiếp ở Vươngquốc NamHán. Theo thờigian, kho từvựng của chúng hoặc biếnmất do trùnglặp dưới dạng từđôi đồngnguyên, hoặc ổnđịnh thành những dạng riêngbiệt, như thấy trong Hán‑Việt mộtbên và cáigọilà ‘ngônngữ đờiĐường’ — nay gắnvới tiếngQuảngđông — ở bênkia.

V) Disản lâudài

Đángchúý là những hìnhthức có nguồngốc Việt được sửdụng trong tầng Hán vẫn tồntại trong từvựng cơbản của tiếngViệt: 

  • voi < 為 wēi (HV vi) ,
  • chuột 鼠 shǔ (HV thử),
  • 牝 bì (HV tẫn).

Lớp Hán‑Việt pháttriển chủyếu qua sựtiếpxúc qua hai triềuđại Hán và Đường: 

  • < 雞 jī (HV kê),
  • buồng < 房 fáng (HV phòng),
  • chài/lưới < 羅 luó (HV la),
  • xe/cộ < 車 chē (HV xa).

Sosánh với tiếng Quảngđông chothấy disản songhành. SV quốcgia (國家 guójiā, ‘nation’) tươngứng với Quảngđông /gok7ga5/, trongkhi VS nướcnhà (‘nation’) phảnánh cùng gốc, dù thường được hiểulại là ‘nước’ + ‘nhà’. Tiếng HánNôm gàcồ tươngứng với Quảngđông 雞公 gai1gung1. HánNôm đôiđũa tươngứng với tiếng Hảinam /duə/ 箸子 zhúzi ‘chopsticks’, dù Quảngđông ưa dùng 筷子 faai3zi2 vì lýdo tâmlinh. (7)

Những tươngứng này chothấy cách các nhântố Việt tầngnền và lớp Trungcổ Hán đã dunghợp lại mộtcách khácnhau trong từng ngônngữ. Quảngđông vẫnđược các nhàHánhọc giữkhưkhư trong họ Ngữ‑Tạng, trongkhi tiếngViệt pháttriển như một ngônngữ có nguồngốc Việt, tíchhợp Hán.

Trong trườnghợp tiếngViệt, những người có ítnhiều tiếpxúc với ngônngữhọc lịchsử cóthể nhậnra các tươngứng này khi được giảnggiải bằng quyluật biếnđổi ngữâm, nhưng họ thường chốnglại ýtưởng chorằng từ HánNôm nướcnhà có chung nguồngốc với từ HánViệt quốcgia. Sựchốngbáng này mộtphần bắtnguồn từ cách hiểu thivị coi nướcnhà là tổhợp của HánNôm nước (‘water’) và  HN nhà (‘home’), phảnánh một tầmnhìn lýtưởng về Việtnam như một vùngđất có chínhtrị đứchạnh, được các nhànho đờiĐường catụng trong thơvăn. Cáchđọc này của 水 shuǐ (HV thuỷ) và 家 jiā (HV gia), tuy có ýnghĩa ngữnghĩa, lại chekhuất nguồngốc Hán tổhợp 國家 guójiā (HV quốcgia). Bàihọc đầu thếkỷ 20 trong sách Tamthiêntự Kinh cho họcsinh khẩutụng ‘gia|nhà, quốc|nước’ chothấy rằng cặpđôi này đã truyềnđạt một ýnghĩa trừutượng gầnvới ‘quốcgia’.

Dù cách hiểu thơmộng này cóthể chấpnhận về mặt ngữnghĩa, nó lại cảntrở việc nhậnbiết sự liêntục ngữâm nối HN nướcnhà với HV quốcgia và Quảngđông /gok7ga5/. Tăngthêm sựphứctạp cho vấnđề, dạng HV nhànước ngàynay lại đặtnặng ýnghĩa ‘cơquan chínhphủ’, tạo thêm một tầng pháttriển hìnhthái và ngữnghĩa, trongkhiđó tự bảnthân từvị nó đã đảongược thứtự hìnhvị gốc từ ngànxưa đểchỉ kháiniệm ‘quốcgia’.

Baonhiêunăm saukhi Vươngquốc NamHán chấmdứt vào năm 971, và dù Annam đã táchra từ năm 939, tiếngQuảngđông và âm HánViệt vẫncòn giữ những tươngđồng ngữâm đángkể thừahưởng từ tiếng tiếngHán Trungcổ đờiĐường mãivềsau. Tuyvậy, vào thờikỳ đó, hai ngônngữ đãcó phânbiệt. Một tìnhhuống tươngtự mà ngườita nghethấy trong biếnthể địaphương của tiếngQuảngđông ở Quảngtây ngàynay, gọi là Bạchthoại (白話). 

Sựchuyểnbiến này bắtnguồn từ sự hỗnhợp tộcngười giaitầng với những cưdân đếntừ phươngbắc của Đếquốc Đại Đường. Vùng Hoanam nướcTàu, đặcbiệtlà Quảngchâu, đã tiếpthu những lànsóng địnhcư lớn do biếnđộng như nạn Loạn An Lộcsơn dưới triềuvua Đường Minhhoàng. Nạnđói lanrộng cànglàm thayđổi cânbằng nhânkhẩu. Cuộcxungđột dẫn đến didời và tửvong hàngloạt, được Bá Dương (1982–1992, Tập 49) ghilại.

Trongkhiđó, tiếngQuảngđông đã trảiqua nhiều giaiđoạn biếnđổi do các yếutố xãhội‑lịchsử baotrùm. Chođến thếkỷ 10, cóthể nóirằng người nói tiếngQuảngđông ở Quảngchâu và ngườiAnnam ở Tràngan Kẻchợ (Tonkin) vẫncòn cóthể giaotiếp được bằng những dạng ngônngữ Hánhoá như Việt Bạchthoại, như được ghilại trong các tưliệu về tiếpxúc giữa Quảngđông và Quảngtây. Trong tầngnền Việt bảnđịa, một số từcăn cơbản vẫncòn chung giữa tiếng Quảngđông và tiếngViệt.

Bảng 4 – Từcăn tiếngViệt dùng thườngngày của tiếngViệt và tiếngQuảngđông

HánNôm chữHán Âm Quảngđông Ýnghĩa tiếngAnh
lưỡi /lej6/ 'tongue'
bông /fa1/ 'flower'
biếu /pej3/ 'give'
khui /hoj5/ 'open'
xơi /sik8/ 'eat'
uống /jam3/ 'drink'
thấy /taj3/ 'see'
đéo /tjew3/ 'curse'
ỉa /o5/ 'defecate'

Tươngtự, trongkhi tiếngQuảngđông vẫn giữ cách phátâm từ Hán Trungcổ của 走 là ‘zow3’ với nghĩa ‘đi’ trong tiếngViệt, thì tiếng HánViệt tẩu (/təw3/) đã chuyểnsang HánNôm thành chạy (‘run’). Nghĩa này tươngứng với tiếngQuanthoại và Quảngđông hoei3/hoeỉ2, và liênkết với âmQuanthoại /qù/ 去 (HánViệt khứ). Mốiliênhệ này mởrộng thành một tậphợp từđôi như HV khu, HV khử, HV khứ, với các biếnthể gồm HN khừ, HN khự, HN khứa, và HN đi, cũng như dạng phụâm của phươngngữ Hànội /xɨ5/. Tiếng Háncổ thời Hán, những từ này cóchung một lõinghĩa thốngnhất, vềsau mởrộng baogồm ‘loạibỏ’, ‘trừkhử’, và ‘cắtđứt’.

Các từcăn bổsung phảnánh tàndư của tầngnền Taic‑Việt trong cả tiếngViệt và tiếngQuảngđông. Hai ngônngữ này đã pháttriển từ những nhánh Tai‑Kadai khácbiệt dàilâu trướckhi tộcngười nói thứtiếng nầy hoànhập sốngchung trong Vươngquốc NamViệt từ năm 204 TCN. Chẳnghạn, 雞公 jīgōng tươngứng với cả VS gàtrống/gàcồ và tiếngQuảngđông cổ /kaj5koŋʷ1/. Sựtươngứng này chothấy một mốiliênhệ Việt chung ở tầngnền, với cả hai hìnhthức đều phátxuất từ cùng một nguồngốc trướckhi Quảngđông bị Hánhoá.

Bảng 5  Từđồngnguyên và từđồngnghĩa trong phươngngữ

Một chủđề lặplại trong nghiêncứu Hán‑Việt là sự cùng tồntại giữa các hìnhthức HánNôm với các hệthống âm HánViệt. Những từđôi này thường giữ được sự liêntục tầngnền Việt đồngthời thểhiện lớp phủ tiếngHán Trungcổ.

HánViệt/Hán HánNôm Quảngđông Ýnghĩa tiếngAnh
quốcgia     國家 guójiā nướcnhà /gok7ga5/ 'nation'
thuỷ          水 shuǐ nước /seoi2/ 'water'
gia            家 jiā nhà /gaa1/ 'home, family'
tẩu            走 zǒu chạy /zau2/ 'run, go'
kêcông      雞公 jīgōng gàtrống/gàcồ /gung1gai1/ 'chicken, rooster'

Mộtmặt, môhình ngữpháp hiệntại trongđó tínhtừ đứngtrước danhtừ, như trong tiếng Quanthoại gōngjī 公雞 (= tiếngAnh ‘male bird’), phảnánh ảnhhưởng lớp tiếngHán được đặtlên tầngnền Việtcổ. Trong tiếngViệt, hìnhthức tươngứng là HN gàcồ, theo môhình [danhtừ + tĩnhtừ]. Cókhảnăng rằng trong giaiđoạn pháttriển sớm, khi cảhai hệthống vẫncòn trong quátrình hìnhthành của tínhđaâm vào cuối thời Háncổ hoặc đầu thời Hán Trungcổ, hai ngônngữ này đãcó sựtươngđồng cấutrúc lớnhơn trong tínhđaâm, đặcbiệt trong tiếngQuanthoại của thờikỳ Bắcthuộc

Khi từ đaâmtiết trởnên phổbiến hơn, ngườinói tiếngHán phânbiệt các từ đồngâm bằngcách đặt yếutố bổnghĩa trước hìnhvị chính để tạo từ đaâm mới. Ngượclại, tiếngViệt giữ thóiquen Việtcổ là đặt danhtừ trước bổnghĩa, songhành với môhình [danhtừ + bổnghĩa].

Từ gócđộ ngônngữ, ngườiViệt ở mọi tầnglớp xãhội cóthể dễdàng tiếpthu tiếngQuảngđông nói gầnđúng cách phátâm của nó, phảnánh một mứcđộ tiếpcận giữa hai ngônngữ. Các yếutố Hán nổibật trong tiếngQuảngđông nhìnchung tươngtự với những gì tìmthấy trong từvựng Hán‑Việt, vì cảhai đều pháttriển thôngqua tiếpxúc lâudài với những didân từ phươngbắc từ các triềuđại Trungquốc nốitiếpnhau trong hơn hai thiênniênkỷ. Mặcdù có ảnhhưởng này, ngườinói tiếngQuảngđông và ngônngữ của họ vẫngiữ sựkhácbiệt — khôngchỉ so với tiếngViệt màcòn với các phươngngữ vùngmiền khác ở Trunghoa.Theo thờigian, thànhphần dâncư của dânsố Quảngđông ngàycàng trởnên hỗnhợp do lànsóng dicư từ các vùng phươngbắc nhấtlà vào thời thịnh Đường. Quátrình này tiếptục khi lụcđịa Trungquốc rơi vào sựthốngtrị của nhiều thếlực phươngbắc, gồmcả người Nữchân thời BắcTống, người Thátđát của nhàLiêu, người Môngcổ nhàNguyên, và người Mãnchâu nhàThanh. Đángchúý, dâncư Quảngđông chủyếu được hìnhthành từ hậuduệ tựnhận mình là thầndân của nhàĐường, đặcbiệt từ thếkỷ thứ 7 trởđi. Hậuduệ của họ được côngnhận là cộngđồng dântộc Hoa tại Việtnam và các vùng khác của ĐôngnamÁ.

Trong cách dùng hiệntại, tiếngViệt và tiếngQuảngđông khôngcòn thểhiện những tươngđồng ngữnghĩa và cúpháp như từng có. Chẳnghạn, thuậtngữ tiếngViệt hiệntại gàtrống đốinghịch với dạng tiếngQuảngđông cổ /gung1gai1/ (公雞), một sựphânkỳ phảnánh những chuyểnbiến lịchsử trong mốiliênhệ ngônngữ.

Những khácbiệt này còn được địnhhình bởi mứcđộ ảnhhưởng Hán khácnhau. Tácđộng của ngườiHán, cả trướcnăm 111 TCN và trong thờikỳ tiếngHán Trungcổ bắtđầu từ thếkỷ thứ 7, đã đểlại những dấuấn ngữâm và ngữnghĩa lâudài. Chẳnghạn, tiếngViệt vẫn dùng đôiđũa, một thuậtngữ đồngnguyên với 箸子 zhúzi. Ngược lại, tiếngQuảngđông, giốngnhư tiếngQuanthoại, tránh dùng chữ 箸, vì sựtươngđồng ngữâm với đổ 倒 (dǎo, HV ‘đảo’) mang ýnghĩa tiêucực. Thayvàođó, họ ưa dùng kuàizi (筷子) hoặc faai3zi2, trongđó 筷 đồngâm với 快 (kuài, VS ‘mau’), một thuậtngữ gắn với tínngưỡng tâmlinh trong vănhoá Hoanam, đặcbiệt ở những vùng có lịchsử đilại bằng ghethuyền. (7)

Mặcdù tiếngQuảngđông vẫn giữ các yếutố tầngnền Việt gốc giốngnhư tiếngViệt, ngườita vẫn phânloại tiếngnói này vào ngữhệ HánTạng. Sựphânloại này chủyếu  dựavào lớp từvựng Hán Trungcổ phongphú, vốnđã lấnát ảnhhưởng của các từcăn Việtcổ. Xuyênsuốt lịchsử, tiếngQuảngđông baogiờ vẫn nằmlọt trongvòng ảnhhưởng vănhoá Hán và sựcaitrị liêntục cóthể truyngược ítnhất từ đời vua Triệu Đà của Vươngquốc NamViệt, và vềsau được củngcố bởi những lànsóng dicư trong thờikỳ thịnhvượng của Đếquốc Đại Đường. Vìvậy, khôngcógì ngạcnhiên khi tiếngQuảngđông thườngđược gọi phichínhthức là ‘ngônngữ Đường’ (唐話, QĐ Tong4waa6‑2, HV 'Đườngthoại').

Thựcvậy, việc xếp tiếngQuảngđông vào họ Hán‑Tạng là có cơsở vữngchắc, được địnhhình bởi cả những yếutố địnhlượng và địnhtính. Nhưđãnói, ngoạitrừ phần chiasẻ với mộtsốít từvựng Hán‑Việt cơbản, từvựng lõi của cả tiếngQuảngđông và âm HánViệt đều bắtnguồn chủyếu từ cùng một nguồn Hán Trungcổ. Nguồngốcchung này củngcố sự hiệndiện của tiếngQuảngđông trong khung Hán‑Tạng và, theođó, gợimở việc đánhgiálại xem, rằng tiếngViệt cóthể cũng được đặt trong phânloại này haykhông?

Nhiệmvụ hiệntại của những nhàngữhọc, vìthế, là tiếntới những phântích sosánh nhằm đánhgiá vịtrí của Hán‑Việt và Quảngđông trong bốicảnh rộnghơn của ngônngữhọc lịchsử Hán Trungcổ. 

Về mặt nhânchủng, khi xétđến tầngnền Tiền-Hán-Việt ('Yue'-cổ), mà cả cáchnhìn truyềnthống của ngườiChoang và ngườiViệt đều gợiý rằng ngườiViệt (越 ,Vjet6) và ngườiQuảngđông (粵, Jyut6) cóthể đã xuấtphát từ những nhánh khácbiệt của Việt (戉 Yuè) trước thếkỷ thứ 2 TCN (xem Truyệncổ Dòng BáchViệt  – dchph, về truyềnthuyết thanhkiếm 'Thầncung Bảokiếm'). 

Các cộngđồng nói 'Jyut' sớm, gắn với Báihuà (白話), nhiều khả năng có nguồngốc Choang (壯族), mởrộng từ QuảngĐông (廣東) sang vùng nay là Quảngtây (廣西). Sựtươngứng giữa hai địadanh này củngcố mốiliênhệ giữa TâyÂu (西甌 Xī'Ōu) và ĐôngÂu (東甌 Dōng'Ōu), trongđó sự gần giống ngữâm của 壯 (OC /ʔsraŋs/) và 廣 (OC /kʷaːŋʔ/) phảnánh một môhình liêntục vùngmiền. Tựdanh của người Choang còn gọilà /Bố‑/ đốinghịch với tộcngữ /Bod/ như đãđược bàntới trướcđây gắnkết với cáchnhìn này. Thựcvậy, sự phânbố các bộtộc BáchViệt gồm các vùng vốnđược gọilà Lĩnhnamđạo (嶺南道 Lingnan Dao), liênhệ đến một chuỗi từvựng kếtnối các thuậtngữ như Bốchuang, Bốthổ, Bốỷ, Bốbản, và Bốviệt với gốc Bod, vốn đồngnguyên với BaiYue, BáViệt, BáchViệt — những tên từng dùng đểchỉ các dântộc bảnđịa.

Kếtluận

Cũngnhư khôngcó nhóm dântộc nào cóthể tựnhận là hoàntoàn “thuầnHán”, thì cũng khôngcó dòngdõi nào “thuầnViệt” hoàntoàn. Lịchsử Việtnam được đánhdấu bởi sựdunghợp giữa những didân ngườiHán từ Đạilục Trungquốc, và các cộngđồng Việt phươngnam. Chính têngọi “Việtnam” với ýnghĩa “ngườiViệt phươngnam”, đã thểhiện disản kép mà chỉcó những dântộc cùng sửdụng chung tổhợp dunghợp từvị Hán-Tạng-Việt này. Vìthế chonên nghiêncứu này sẽ nằmchung trong tuyểntập Ýthức mới về nguồngốc tiếngViệt.

Khác với các cộngđồng ngườiHoa ở những nơikhác ở vùng ĐôngnamÁ, ngườiHoa tại Việtnam hoànhập nhanhchóng — chỉ trong khoảng hai thếhệ, hậuduệ sinhra trên đấtViệt thường tựnhận là dântộc Kinh. Qua nhiều lànsóng địnhcư tiếptục theo hướngnam và sựhoànhập với các nhóm bảnđịa, những cộngđồng hỗnhợp này đã kếttụ thành đasố dântộcKinh, vốn địnhhình nên nước, người, và tiếng Việtnam hiệntại.

TiếngViệt vìthế hiệnđại khôngphải như một dịbiệt Môn‑Khmer, mà như một ngônngữ có sự thừahưởng ngônngữ giaitầng: tầnggốc Việt với tầngphủ Hán phíatrên, với những quanhệ ngônngữ Hán‑Tạng mậtthiết. TiếngViệt đã tồntại trước tiếngMôn‑Khmer và tiếngHán vì chúng chỉ xuấthiện vềsau trên cùng mảnhđất Hoanam saunày rơivào sựthốngtrị của nhànước Trungquốc chođến ngàynay.



Sách Thamkhảo

  • Aitchison, Jean. (1994). Language change: Progress or decay? Cambridge: Cambridge University Press.
  • Alves, Mark J. (2001). What’s so Chinese about Vietnamese? In Graham W. Thurgood (Ed.), Papers from the Ninth Annual Meeting of the Southeast Asian Linguistics Society (pp. 221–242). Arizona State University.

  • Alves, Mark J. (2007). Categories of grammatical Sino‑Vietnamese vocabulary. Mon‑Khmer Studies, 37, 217–229.

  • Anttila, Raimo (Ed.). (1989). Historical and comparative linguistics. Amsterdam/Philadelphia: John Benjamins.

  • Bloomfield, Leonard. (1933). Language. New York: Henry Holt.

  • Bynon, Theodora. (1977). Historical linguistics. Cambridge: Cambridge University Press.

  • Ferlus, Michel. (2012). Linguistic evidence of the trans‑peninsular trade route from North Vietnam. Mahidol University / SIL International.

  • Haudricourt, André Georges. (1954). Comment reconstruire le chinois archaïque. Word, 10, 351–364.

  • Haudricourt, André Georges. (1961). The limits and connections of Austroasiatic in the Northeast. In Norman Zide (Ed.), Studies in comparative Austroasiatic linguistics (pp. 123–140). The Hague: Mouton.

  • Kelley, Liam C. (2012). The biography of the Hồng Bàng clan as a medieval Vietnamese invented tradition. Journal of Vietnamese Studies, 7(2), 87–122.

  • Lü, Shih‑P’eng. (1964). Vietnam during the period of Chinese rule. Hong Kong: University of Hong Kong.

  • Nguyễn, Tài Cẩn. (1979). Nguồn gốc và Quá trình Hình thành Cách Đọc Âm Hán‑Việt. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

  • Nguyễn, Tài Cẩn. (2000). Giáo trình Ngữ âm Lịch sử tiếng Việt. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Giáo dục.

  • Sagart, Laurent, & Baxter, William. (2011). Old Chinese reconstruction project. Retrieved from https://ocbaxtersagart.org

  • Sidwell, Paul. (2010). The Austroasiatic Central Riverine Hypothesis. Journal of Language Relationship, 4, 117–134.

  • Sun, Tianxin. (2011). Yuenan Han Ziyin de Lishi Cengci Yanjiu 越南漢字音的歷史層次研究. Taiwan Pedagogy College.

  • Taylor, Keith Weller. (1983). The birth of Vietnam. Berkeley: University of California Press.

  • Wiens, Herold J. (1967). Han Chinese expansion in South China. USA: Shoe String Press.


CHÚTHÍCH


(*)Tộcngữ còngọilà ngữtộc — và danhtự tộcngữ cònđược dùngnhư tĩnhtừ (hìnhdungtự), thídụ, "Trong hơn 2000 năm tiếptheo, các nhóm tiền‑Hán nhậpcư đã hoànhập với cộngđồng Taic‑Việt, tạora một matrận tộcngữ phứchợp có trướckhi các nhànước Tiền-Tần và nhàHán đãđược củngcố," "Tươngtự, têngọi Việt (越 Yuè) không chỉđịnh một cộngđồng tộcngữ đồngnhất." (Sosánh: chủnghĩaxãhội xãhộichủnghĩa.)

(1)^ Vídụ, dạng nguyênthuỷ /krong/ có quanhệ đồngnguyên với cả tiếngViệt ‘sông’ và chữHán 江 jiāng (HV ‘giang’, QĐ /kong1/). Trongkhi dạng thứnhất được thừanhận như đã trìnhbày, dạng thứhai cóthể chứngminh qua bộphận ngữâm 工 gōng (HV ‘công’). Sự tươngứng ngữâm này không cầnphải chứngminh thêm, vì biếnthể phátâm từ 工 /kong/, vốn gópphần vào cấutrúc ngữâm của 江 jiāng, củngcố thêm tínhhợplý của gốc từnguyên Việt tiền‑Hán đã tồntại trướcđó.

(2)Hántrung: Trong thờikỳ Tần‑Hán, Quận Hántrung (漢中郡) phíatây bắtđầu từ Miệndương Dươngbìnhquan, phíađông đến Vânquan và Kinhsơn, kéodài hàngnghìn dặm. Thời nhàTần đã thiếtlập Quận Hántrung, trịsở đặt tại Namtrịnh, gần khuvực Huyện Namtrịnh thuộc Thànhphố Hántrung ngàynay. Cuối nhàTần, các thếlực chínhtrị tranhgiành; sau yếntiệc Hồngmôn, Lưu Bang (劉邦) đã xưngthần với Hạng Võ (項羽), và Hạng Võ phong ông làm Hántrungvương. Sửký ghilại rằng Lưu Bang khá thấtvọng, mưusĩ Tiêu Hà (蕭何) khuyênrăn: “Ngạnngữ có câu ‘Thiên Hán’, danhxưng ấy rất đẹp.”

Trong thờikỳ ở Hántrung, Lưu Bang ẩnnhẫn chờthời, ápdụng chiếnlược của Hàn Tín (韓信) “Minh tu sạnđạo, ám độ Trầnthương”, phong Hàn Tín làm đạitướng, rồi bấtngờ tấncông chiếm ba vùngđất Tần (Thiểmtây), cùng Hạng Võ tranhhùng, sử gọi là “Hán-Sở Tranhhùng”. Cuốicùng Lưu Bang giành thắnglợi quânsự; vì nguyên phongđịa của ông ở Hántrung nên được gọi là Hánvương. Sau khi dờiđô đến Trườngan và lập triềudại thốngnhất thứhai trong lịchsử Trungquốc, quốchiệu được gọi là “Hántriều”, và Lưu Bang đượcxưng là “Hán Caotổ” (漢高祖).

Ngàynay, “Hántộc” của Trungquốc chính là têngọi bắtnguồn từ Hántriều; Hántrung là cộinguồn của danhxưng ngườiHán, và còn lưugiữ nhiều ditích, hiệnvật đời Hán như Báitướngđàn (nơi Lưu Bang bái Hàn Tín), Hán Đài, sạnđạo, v.v. Vào thờikỳ Hán Vũđế, người Thànhcố là TrươngKhiên (張騫) đã đisứ Tâyvực, trởthành sựkiện đánhdấu sựhưngkhởi của “Conđường Tơlụa”. (Nguồn: Wikipedia)

(3)^ Ảnh hưởng chínhtrị đối với chínhsách ngônngữ:  Từ năm 2017, chínhsách ngônngữ của Cộnghoà Nhândân Trungquốc dưới thời Tập Cận Bình quyđịnh rõ rằng các chươngtrình truyềnhình địaphương khôngđược phátsóng bằng các phươngngữ vùngmiền, mà phải sửdụng độcquyền phươngngữ miềnBắc, đólà tiếng Phổthông. Trườnghợp này chothấy mứcđộ canthiệp chínhtrị vào quátrình pháttriển ngônngữ — một chủđề sẽ được khảosát sâuhơn trong những bàiviết khác.

(4)‘Bod’ chỉ là một dạng khác của tên ‘Bak’, như trong 百姓 (Bǎixìng, HV 'Bátính'), 百越 (BaiYue, HV 'BáchViệt'), được Lacouperie bànđến (sđd., xem The Languages of China before the Chinese) được dịchsang tiếngViệt nhưsau:

“Bak vốn là một tên tộcngười và không mang ýnghĩa nào khác. Cóthể dẫnchứng bằng những têngọi tươngtự — tuy được ghi bằng những kýhiệu khácnhau — mà họ dùngđể gọi mộtsố kinhđô thờixưa: PUK, POK, PAK, những tên đã được truyềnlại đếnnay, và sựtươngđồng của chúng với Pak và Bak là điều khôngthể phủnhận. Ở vùngđất mà họ xuấtphát, Bak là một tên tộcngười rất quenthuộc; chẳnghạn Bakh trong Bakhdhi (Bactra), Bagistan, Bagdada, v.v., và tên này được giảithích là mang nghĩa ‘maymắn', 'thịnhvượng’.”

Cáchhiểu này phùhợp với những gì cùng tácgiả bànluận trong bài dẫn kểtrên (Lacouperie, sđd., tr. 116‑119) về tổtiên Bak của ngườiHán cổđại, đốilập với các nhóm tộcngười tiền‑Hán.

(5)^ Lưuý từngữ trongviệc chuyểntự: Trong bài này, mọi dạng chuyểntự các têngọi lịchsử đều dựatheo cáchphátâm Quanthoại để tiện thamchiếu, dùrằng các dạng ngữâm hiệnđại không nhấtthiết phảnánh chínhxác cách chúng từng được phátâm trong quákhứ. Chẳnghạn, các dạng hiệnnay:

  • Yue (越, 粵, 戉, 鉞) → Việt
  • NanYue (南越) → NamViệt
  • OuYue (歐越) → ÂuViệt
  • Annan (安南) → Annam
  • LuoYue (雒越) → LạcViệt
  • MinYue (閩越) → MânViệt
  • DongYue (東越) → ĐôngViệt
  • WuYue (吳越) → NgôViệt


Ngoàira, các phụcnguyên ngữâmcổ không thốngnhất; khôngphải ai cũng đồngthuận về cáchphátâm thờixưa. Một số họcgiả đềxuất dạng /Viet8/, trongkhi những ngườikhác nghiêngvề /Jyet8/ hoặc /Jyut6/. Sựbấtđịnh này còn thểhiện trong cáchphátâm phươngngữ tiếngViệt hiệnđại, khi tiếngViệt trong phươngngữ miềnNam cóthể được phátâm luânphiên với các âmđầu /v-/, /j-/, và /z-/.

(6)Từ Việt vaymượn trong tiếngHán: Thídụ về những từ có gốcViệt trong tiếngHán gồmcó:

  • đường: 糖 táng (HV đường)
  • dừa: 椰  (HV già)
  • trầu檳榔 bīngláng (HV binhlang, cf. Mường 'blau')
  • sông: 江 jiāng (HV giang, cf. Mường 'krong')
  • chó: 狗 gǒu (HV cẩu, cf. Proto-Vietic */klo/).

(7)Về mặt từnguyên, các từ Hánngữ Thượngcổ chỉ ‘đũa’ là 箸 (OC *das) và 梜 (OC *keːb) William H. Baxter và Laurent Sagart phụcnguyên ngữâm Thượngcổ của 箸 là /*[d]<r>ak‑s/. Chữ Hán 箸 có âm HánViệt là trứ hoặc trợ. Chữ 箸 vẫnđược bảolưu trong hầu hết các phươngngữ Mân (Đàiloan tī, tū; Phúcchâu dê̤ṳ) và mộtsố phươngngữ khác, đặcbiệt là những phươngngữ có tiếpxúc với phươngngữ Mânnam; nó cũngđược giữlại trong các từ vaymượn sang ngônngữ khác, chẳnghạn tiếng Hàn 젓가락 (jeotgarak), tiếngViệt 'đũa' và tiếng Choang 'dawh'. Từ thời nhà Minh trởđi, sự chuyểnsang dạng 筷子 xuấthiện trong Quanthoại, Ngô và mộtsố phươngngữ QuảngĐông.

Tácphẩm Tạpký Vườn Đậu (《菽園 雜記》) thếkỷ 15 của Lục Dung (陸容) có ghilại sựthayđổi này: "如 舟行 諱「住」……,以「箸」為「快兒」". Vì giới đithuyền kiêng chữ 住 (zhù, ‘dừng'; 'đứnglại' (giữa biển)’), họ gọi 箸 (zhù, ‘đũa’) bằng tên 快兒 (kuàir, nghĩađen là ‘mau'). Về sau, bộ trúc (竹) được thêm vào chữ 快 để tạo thành 筷. Kỳthật, sựthayđổi từnguyên rất cóthể dovì âm Trungcổ
/ɖɨə̆/ đọc gầngiốngnhư âm Trungcổ của 倒 dǎo /taw/, cónghĩalà 'đỗ' (nhưtrong 'lậtđỗ').