Friday, January 23, 2026

Từnguyên Việtngữ Khôngchỉlà Những Kýhiệu Côlập

TiếngViệt Là Khotưliệu Sống của Lịchsử

文 以 載道, 語 以 傳世. (Văn để tảiđạo, lời để dạyđời)



by dchph in collaboration with Copilot 



Phânbiệt dântộc trong lịchsử thường dựatrên ngônngữ hơnlà chủngtộc sinhhọc, và nguyênlý này đặcbiệt quantrọng khi khảosát cơcấu cưdân cổđại tại Việtnam và miền Hoanam, Trunghoa.

Với bốicảnh tiềnsử, cộngđồng khôngđược nhậndiện bằng đặcđiểm thểchất hay phânloại sinhhọc, mà chủyếu thôngqua ngônngữ, phongtục và môthức vănhóa được truyềnthừa qua nhiều thếhệ. Vìvậy, ngônngữ trởthành chỉdấu bềnvững hơn, phảnánh quátrình tiếpxúc, vaymượn và hộitụ lâudài giữa các nhóm cưdân lâncận.

Khi khảosát các giaitầng ngữâm và ngữnghĩa còn lưugiữ trong tiếngViệt, cóthể nhậnthấy rằng những liênhệ với truyềnthống Hán, Việt và TạngMiến mang lại giátrị giảithích thuyếtphục hơn nhiều sovới các giảđịnh dựatrên chủngtộc sinhhọc. Điềunày củngcố nhậnđịnh rằng bảnsắc dântộc trong khuvực khôngthể được hiểu qua các phạmtrù chủngtộc hiệnđại, mà phảiđược tiếpcận như một quátrình động, trongđó ngônngữ giữ vaitrò trungtâm trongviệc hìnhthành và táicấu trúc cộngđồng (hơnlà huyếtthống).

Vì lẽ đó, việc địnhvị tiếngViệt trong một khônggian ngônngữ ĐôngÁ rộnglớnhơn khôngchỉlà một lựachọn phươngpháp, mà là bước thiếtyếu để hiểu đúng lịchsử cưdân và bảnsắc vănhóa Việtnam. Bàiviết này nhằm khảosát những vấnnạn cốtlõi của vấnđề đó.

I) Kýức vănhóa của Việtngữ

Vềmặt lịchsử, cả người Việt lẫn Choang (Nùng) đềuđược ghichép là “Bjet” hay một dạng gầnvới “Bod” (sosánh 百越 BáchViệt, 百姓 Báchtính; xem Terrien Lacouperie, 1887). Đâylà những nhóm đạidiện rõrệt nhất cho cưdân BáchViệtcổ, được tìmthấy trong nhiều nguồn lịchsử.  

Hậuduệ của các nhóm BáchViệt cổđại đều được lịchsử ghichép là các sắcdân người Việt, Đồng, Choang (Tráng haylà Nùng), Tày (Thái), Môn, Mèo, Dao... nhưng tiếntriển ngônngữ của các cộngđồng đó lại đitheo những quỹđạo khác nhau. 

Lấy trườnghợp tiếngChoang, một cưdân dântộc thiểusố lớnnhất ở Quảngtây Trungquốc gồm trên 17 triệu người, dù chịu ảnhhưởng nặngnề Hán, theocách xếpđặt khunghệ ngàynay, vẫngiữ đặctính Tai‑Kadai là một ngữhệ táchhẳn khỏi Hán-Tạng. 

Choang là một cộngđồng dântộc hơnlà một đơnvị thuần ngônngữ. Nhìnchung, các dạng lờinói Choang thểhiện nhiều ảnhhưởng phi-ditruyền, gồm các đặctính ngônngữ Choang, Tày (Daic) và Hán (Lan Hongyin, 1984, tr. 131–138). Đasố ngườikinh của dântộc Choang sống ở kinhthành như Namninh, Bắchải, Liễuchâu... cưdân nầy đều nói tiếngChoang hoàntoàn đã bị Hánhoá! Do sựsaibiệt giữa các thổngữ, nhiều người Choang thậmchí khó giaotiếp vớinhau qua ranhgiới phươngngữ (1)

Bảnsắc Việt — hơncả yếutố chủngtộc — được xácđịnh chủyếu qua ngônngữ, với các yếutố Hánngữ đóng vaitrò thốngnhất cộngđồng. Các đặctính Hánngữ như cấutrúc âmtiết, thanhđiệu và tiếntriển ngữnghĩa hiệndiện trong từ Nôm, Hán‑Nôm và Hán‑Việt. Giaiđiệu tiếngViệt, thểhiện qua cách chuyểndịch địadanh ngoạilai, càng củngcố các kếtnối này. Chẳnghạn, các địadanh Chămcổ như Vijaya và Kauthara được làmmềm qua Hán‑Việthoá thành Quinhơn (歸仁 Guiren) và Nhatrang (牙莊 Yazhuang).

Trongkhiđó, tiếngViệt dù theo chủthuyết NamÁ phổbiến ngàynay là nó mang “đặctính” Môn-Khmer. Điềunày cũng chỉ chothấy sựkhácbiệt không nằm ở chủngtộc, mà ở lịchsử tiếpxúc và cấutrúc ngônngữ. 

II) Giớihạn của lýthuyết NamÁ Môn‑Khmer

Người gốcKhmer, ngượclại, đạidiện cho các nhóm cộngđồng nóitiếng NamÁ Môn‑Khmer, được phânloại dựatrên nguồngốc dântộc hơnlà các khunghệ ngônngữ. Người thuộc dòngdõi mày thường tự xácđịnh qua bảnsắc sắctộc thiểusố ở vùng caonguyên thượngdu Việtnam, táchbiệt với cộngđồng ngườiKinh và các nhóm thuộc tộc Mường lâncận. Một người Mường thường khônggặp khókhăn khi tự nhìnnhận mình là ngườiViệtnam, trongkhi một côngdân Việt gốc Khmer — dù sinhra, lớnlên sống trong cộngđồng ngườiKinh và thôngthạo tiếngViệt — cóthể họ khôngxem mình là ngườiViệt vềmặt sắctộc nên họ sẽ tựnhận mình là dân Khmer. Sựphânbiệt này thường dựatrên chủngtộc hơnlà ngônngữ  — để sosánh, lấy trườnghợp ngườiViệt gốc Hoa, lạilà một trườnghợp tráingược, vì sắctộc nầy thường tựnhận họ là ngườiViệt sau một hay hai thếhệ.

Những người nói songngữ Khmer và Việtnam thường xem bảnsắc chủngtộc của mình gắnvới cộngđồng Khmer tại Campuchia, đồngthời nhận mình là côngdân Việtnam theo tưcách pháplý. Quanđiểm kép này chothấy mối quanhệ phứctạp giữa dântộc, ngônngữ và quốcgia trong các cộngđồng thiểusố tại Việtnam.

Quátrình hìnhthành địadanh Việt cũng chothấy sựphânkỳ ngônngữ. Nếu tiếngViệt và tiếng Khmer có quanhệ đồngnguyên, ngườiViệt đã khôngcần tạora các địadanh hoàntoàn mới như Sóctrăng thaycho Khleang, Càmau thay cho Khmaw, Namvang thaycho Phnom Penh, hay Caomiên cho Khmer hiệnđại. Tươngtự, họ tạora các dạng phiênâm như Sàigòn (西岸 Xī’àn, Quảngđông /Sajngon/, nghĩa à “Tâyngạn”). Ngượclại, các địadanh Hán‑Việt như Tâyninh (西寧 Xining) hay Bắcninh (北寧 Beining) tươngứng trựctiếp với địadanh Hán, phảnánh một cặpghép ngônngữ chặtchẽ.

Tụcngữ Việtnam đặt câuhỏi liệuđây cóphải chỉlà ‘cáicày đặt trước contrâu’ trongviệc chuẩnbị ruộngnước. Câuhỏi mang tính chấtvấn: phảichăng môhình NamÁ Môn‑Khmer đãđược dựng sẵn, rồi dữliệu sẽ được sắpxếp vào cho khớp vềsau? Phép 'vídụ' này gợilại nghịchlý ‘congà và quảtrứng’, nhắc rằng lýluận rất dễ bị uốntheo một tườngthuật địnhtrước.”

“Mệnhđề dângian này cũng vọng lại một khẳngđịnh khôngkémphần đángngờ của mộtsố nhàngữpháp phươngTây đầu thếkỷ 20 — rằng tiếngViệt ‘khôngcó ngữpháp’ chođếnkhi các cấutrúc Pháp được dunhập và điềuchỉnh, nhưthể ngônngữ này chỉ ‘rađời’ nhờ canthiệp thuộcđịa. Cáchnhìn ấy hiểusai bảnchất của ngônngữ. Ngữpháp không tạonên một ngônngữ, cũngnhư một danhsách từ khôngthể cấuthành ngônngữ. Ngônngữ tồntại trướcđã, và độclập với chữviết, mọi khungphântích là được ápđặt vềsau.

Sứcmạnh chính của giảthiết NamÁ Môn‑Khmer nằm ở tuyênbố rằng tiếngViệt chiasẻ lớp từvựng cơbản với các ngônngữ Môn‑Khmer. Tuynhiên, như nghiêncứu này chỉra, chính những từ cốtlõi ấy cũng hiệndiện trong các ngônngữ Hán‑Tạng. Lớp từvựng nềntảng này vượtxa phạmvi các bảng từ cơbản NamÁ, baogồmcả những từ bảnđịa và thổngữ trong kho từ tiếngViệt. Các chuyêngia Tâyhọc trong phái NamÁ Môn‑Khmer đã nhậnthấy môhình này và tiếptục thu hút các thếhệ họcgiả mới vào trườngphái của họ. Sự mởrộng thamgia họcthuật trong lĩnhvực này càng củngcố phânloại NamÁ Môn‑Khmer. Những người mới bướcvào ngônngữhọc lịchsử tiếngViệt thường lặplại các tườngthuật đãđược giảngdạy trong môi trường họcthuật, khiến phânloại ngônngữ trởthành một chukỳ lặplại.

Nếu sựquantâm giatăng trong lĩnhvực này mởra các thảoluận rộng hơn, họcgiả cóthể xemxét lại phânloại tiếngViệt bằngcách đặt từnguyên Hán‑Tạng cạnh các bảng từ NamÁ Môn‑Khmer. Bàiviết này giớithiệu bằngchứng mới về các đồngnguyên giữa Hán‑Tạng và tiếngViệt trong lớp từ cơbản, chothấy mốiliênhệ ngônngữ vượtkhỏi tườngthuật NamÁ. (Xem Parallels with the Sino‑Tibetan languages)

Chúngta cần xemxétlại các bảng từ cơbản mà các chuyêngia NamÁ đã dựavào suốt hơn một thếkỷ nay để xâydựng giảthiết của họ. Vào đầu thếkỷ 20, nhằm củngcố lýthuyết, những người tiênphong NamÁ đã đưara các phảnbiện chống lại phânloại Hán‑Tạng vốn được chấpnhận rộngrãi đốivới tiếngViệt (Meillet, A., 1952, tr. 526–27). Phươngpháp của họ chủyếu dựatrên việc lập bảng và phânloại từ Khmer — mà ởđây gọilà “thuhoạch từnguyên” — trong các phânnhánh Môn‑Khmer như Banahric và Katuic, rồi đốiứng chúng với các ngônngữ Việt‑Mường như Mường, Rục và Thàvừng. Các họcgiả NamÁ vẫngiữ sựtựtin vào giảthiết của mình, chorằng các từ cơbản tiếngViệt phùhợp chặtchẽ với từnguyên NamÁ hiệndiện trong nhiều phươngngữ Môn‑Khmer.

Tuynhiên, khi sựhứngkhởi banđầu xungquanh khungphânloại NamÁ lắngxuống, một sựthật trởnên rõràng: các từnguyên cơbản này được phânbố không đồngđều trong các ngônngữ Môn‑Khmer. Nói cách khác, mộtsố phươngngữ giữ dạng tươngtự, trongkhi các phươngngữ khác thì không, gợiý rằng sự lantruyền ngônngữ — chứkhôngphải quanhệ đồngditruyền — cóthể giảithích các tươngđồng. Trong mộtsố trườnghợp, hiệntượng này cóthể bắtnguồn từ tiếpxúc vùngmiền, đặcbiệt giữa các thổngữ Mường.

III) Dicư, hoànhập và sự hìnhthành cộngđồng Kinh

Vềmặt nhânvăn, bảnsắc Trunghoa cũng được địnhnghĩa như một cấutrúc vănhóa hơn là một phânloại chủngtộc. ChữHán từlâu đượcxemlà yếutố thốngnhất các dântộc khácnhau trong Trunghoa, chophép giaotiếp qua vănbản bấtkể phươngngữ. Chẳnghạn, cưdân tại miềnnam Trunghoa, cưdân Giangtây, Hồnam, Quảngtây, Tứxuyên và Vânnam nói các biếndạng tiếngQuanthoại của vùng Tâynam, chúng khácvới các phươngngữ vùng tây hay đôngbắc như Thiểmtây hay Sơntây hoặc Sơnđông, vùng đôngnam như Giangtô hay Triếtgiang. Dĩnhiên, tấtcả đều đọchiểu chữHán — kểcả người Quảngđông, Triềuchâu, Phúckiến và Hảinam, và điều đángchúý, cả ngườiAnnam thời cậnđại; bằngchứng là Việtnam có những tácphẩm nguyênbản viết bằng Hánvăn như Chinhphụngâm của Đặng Trần Côn.

Tuynhiên, vềmặt địalý-ngônngữ, quátrình Hánhoá không giốngnhau cho tấtcả các sắctốc sống ở Trungquốc, thídụ, tiếng Quanthoại có tácđộng rất hạnchế lên các nhóm như Uyghur (Tâncương), NộiMông hay Tâytạng, dù các vùngnày bị sápnhập vào Trunghoa từ một đến nhiều thếkỷ trước — một quátrình tươngtự thờikỳ Annam thuộc Hán.

TiếngViệt trongkhiđó đượcxem như một hoáthân ngônngữ của một thứtiếng BáchViệt thờicổ do sựtáchrời sớm khỏi dòng Hánngữ chủthể. Tuynhiên, quanđiểm này không hoàntoàn tuyệtđối. Khácvới tiếng Quảngđông hay Phúckiến — những ngônngữ được nói bởi các cộngđồng bảnđịa sống tại quêhương tổtiên suốt hàng thiênniênkỷ — tiếngViệt đitheo một quỹđạo tiếntriển riêng. Vềmặt lịchsử, dù Annam cổ từng thuộc Trunghoa, sựtiếntriển của nó phảnánh thànhphần dâncư của vùngđất phươngnam này.

Saukhi táchkhỏi Trunghoa và trởthành quốcgia độclập, ngườiViệt cổ từ Hoanam didân về phươngnam, thànhlập nhànước Annam, họ tiếptục mởrộng về phíanam, dẫnđến sựhoànhập tấtyếu của yếutố Chăm và Môn‑Khmer cả về chủngtộc lẫn ngônngữ. Tuyvậy, lõi dâncư của quốcgia vẫnlà hậuduệ của những cưdân đã địnhcư sớmhơn, với cơcấu dânsố đã địnhhình trong thờikỳ Annam thuộc Hán. Theo thờigian, sự hoàlẫn huyếtthống với các nhóm bảnđịa đikèm với mởrộng lãnhthổ, tươngtự quátrình đồnghoá mà các triều Tần‑Hán đã thựchiện với cưdân bảnđịa tại BắcViệt cổ.

Bảnthân đasố ngườiKinh cókhảnăng gốcHán rấtcao với tấtcả những 'họ Tàu' mà họ có.

Đừngnóichi ngườibìnhthường, cứ thửtính xácsuất để một ngôisao âmnhạc xuấtsắc xuấthiện từ dânsố mộttriệu người là baonhiêu? Điều đángchúý là phầnlớn trongsố khoảng 90 casĩ trẻ và nổitiếng của Việtnam hiệnnay đều mang họ Trunghoa khôngthể phủnhận được. Cóthể kể: Quách (郭 Guò), Lương (梁 Liáng), Trần (陳 Chén), Trịnh (鄭 Zhèng), Đàm (潭 Tán), và Lưu hay Lều (劉 Líu), v.v. Độcgiả cóthể tự kiểmchứng rằng nhiều người trongsố họ còn mang tênđệm hoặc chữlót nghe rấtlà Hán.

Gầngũi hơn, thửtính xácsuất một trong mười người bạn Việt thânthiết của bạn có tổtiên gốcHoa là baonhiêu? Khảnăng rấtcao là khôngchỉ một, mà thậmchí hơn mộtnửa consố cóthể truycập được nguồngốc về các lànsóng didân Hoa trướcđây. Tổphụ của các giađình này đãtừng được côngnhận chínhthức là mang ‘dântộc Kinh’, nhưng trong hồsơ hànhchính và hộtịch từ cuối thậpniên 1950 lại được ghichép là ‘dântộc Hoa’. Chẳnghạn, nhiều cuộc điềutra dânsố nhà họ ghilà: Dântộc: Kinh, Nguyênquán: Trungquốc. Dùvậy, những người này vẫn xem mình là ngườiViệt!

“Điểm cốtlõi ởđây là: tổtiên của một người không nhấtthiết phải mang dòngmáu Môn‑Khmer để đượcxem là ngườiViệt — tươngtự, và ngônngữ cũng vậy.”

Mặcdù các độnglực chủngtộc này hiệnrõ, vấnđề lại hầunhư khôngđược chúý trong nhânvăn và ngônngữhọc chuyênvề Việtnam. Giảthiết NamÁ Môn‑Khmer đã địnhvị tườngthuật theo hướng chorằng cưdân bảnđịa Môn‑Khmer bị “Việthoá”, chứkhôngphải điều ngượclại — một gócnhìn cólẽ được hìnhthành bởi uythế lịchsử của Vươngquốc Khmer. Tuynhiên, những người ủnghộ giảthiết này dườngnhư bỏqua các sựkiện lịchsử thenchốt, đặcbiệt là sựxuấthiện của các nhóm địnhcư đếntừ miền Hoanam Trunghoa, những người  “Hoanam thuộcHán” – línhtráng, quanlại – đã thuộcđịahoá và sauđó Hánhoá cưdân sởtại. 

Quátrình hoàchủng này bắtđầu vào đầu thếkỷ thứhai 111 TCN và tiếptục suốt một nghìn năm sau côngnguyên (SCN). Chính những nhóm cưdân này đã hìnhthành cộngđồng ngườiKinh, những người sauđó lại “Việthoá” các lànsóng didân Hoa muộnhơn mà trong thời cậnđại thì có nhóm Minhhương (明鄉人), hậuduệ của thầndân Triều Minh, họ trốnthoát sựcaitrị của người Mãnchâu tại Trunghoa. Hàngtrăm thuyền didân Minh đã dongbuồm xuống phươngNam xin tỵnạn tại Việtnam trong thếkỷ 18. Mộtsố nhóm banđầu địnhcư tại Cambốt, họ sống giữa cộngđồng Khmer trướckhi chuyểndịch sang Việtnam.

Sau thếkỷ 12, ngườiAnnam tiếptục chuyểndịch xuống miền Trung và Nam, địnhcư trên các vùngđất mới thuộc hai vươngquốc Chămpa và Khmer đã diệtvong. Những tiếpxúc này tạo điềukiện cho traođổi ngônngữ‑dântộc mậtthiết, và các nhóm cưdân vaymượn từvựng lẫnnhau. Các từ Môn‑Khmer cơbản đivào tiếngViệt qua tiếpxúc trựctiếp trong thờiđiểm hoàncảnh đó (vì từ Khmer không hiệndiện trong các áng vănchương cổ Việtnam. 

Trườnghợp từvựng Khmer đã đivào tiếngViệt tươngtự cách các từ BáchViệt đivào tiếngHán thời cổđại. Bằngchứng của những tiếpxúc này thểhiện qua sựphânbố không đồngđều của các từ Môn‑Khmer cơbản — cómặt trong mộtsố nhánh nhưng vắngmặt trong các nhánh khác. Những từ này được sửdụng dọctheo các dãynúi phíatây Việtnam từ những giaiđoạn sớmsủa của quátrình mởrộng lãnhthổ.

Dù các lànsóng didân này có ýnghĩa lịchsử lớn, giới ngônngữhọc lại ít bànluận về chúng. Thayvàođó, trọngtâm họcthuật chủyếu xoayquanh việc phânloại tiếngViệt vào ngữhệ NamÁ Môn‑Khmer — một phânloại được địnhhình bởi xuhướng họcthuật hơnlà phântích lịchsử xácthực. Khunghệ này dựa chủyếu vào việc nhậndiện các đồngnguyên cơbản giữa Môn‑Khmer và tiếngViệt, nhấnmạnh các điểm tươngđồng từvựng, thídụ sốđếm một đến năm.

Vềmặt dântộchọc, điềunày phảnánh tiềnlệ lịchsử: các nhóm didân Hoa đếntừ miềnnam Trunghoa saukhi họ đã bị Hánhoá và khi họ tới tới Annam cổ, lại cũng là vùng Hánngữ của thời Bắcthuộc. Tớiđâu cũng gặp ngườiHán. Nóitheo kiểu nômna, điđâu cũng gặp Tàu! Bằngchứng là sựhiệndiện của từvựng Môn‑Khmer trong tiếngViệt là lớp từ NamÁ Môn‑Khmer có sốlượng từ cơbản íthơnnhiều sovới lớp từ Hán‑Nôm, vốn tươngứng chặtchẽ với cả Hán‑Việt và Hán‑Tạng.

Trong phụcnguyên đốichiếu theo khung Hánngữ, các yếutố nhânvăn — lịchsử, vănhóa, và thổâm — phảiđược cânnhắc cẩntrọng, vì chúng địnhhình bảnsắc dântộc Việtnam. Hiệnnay, Việtnam có 54 cộngđồng thiểusố, mỗi nhóm giữ một phươngngữ riêng (như Mèo, Tày, Nùng, Chăm, và các thổngữ Môn‑Khmer). Những phânhoá ngônngữ này tồntại độclập với việc tổtiên họ có từng thuộc Vươngquốc  NamViệt haykhông. Chẳnghạn, cộngđồng Lê (黎族) tại đảo Hảinam có quanhệ ditruyền với ngườiChăm miềnTrung, phảnánh nguồngốc Namđảo của họ. Tuynhiên, họ khôngcó liênhệ trựctiếp với cưdân Annamcổ cho đếnsau thếkỷ 12, khi các nhóm Chăm bắtđầu hoànhập với cưdân Annam táiđịnhcư. Điềunày đặtra nghivấn về tínhhợplý của việc gán các từ Chăm như ni và nớ (‘kia, đó’) cho Hántự 那 (nà).


Hình 4 - Bảnđồ Việtnam 1650 SCN

Giátrị sosánh của các từ cơbản Môn‑Khmer trong tiếngViệt cầnđược cânnhắc trong tươngquan từnguyên thuộc ngữhệ Hán‑Tạng hiệndiệnphongphú trong Việtngữ. Sựđốichiếu này tươngtự cách tiếng Nhật và Hàn chủđộng tiếpnhận từ Hán và hoàntoàn tíchhợp chúng vào đờisống hằngngày. Tươngtự, nhiều từ Việt cơbản có đồngnguyên rõrệt trong các ngônngữ Hán‑Tạng cóthể đã tồntại từ thờicổđại, thậmchí cóthể ngượcvề tận truyềnthuyết Phùđổng Thiênvương (Thánh Dóng 聖董), kểvề sựkhángchiến của tổtiên ngườiViệt trước quân xâmlăng nhàÂn (殷朝) (2). Nếu truyềnthuyết này có chấtchứa yếutố lịchsử, thì hàng thếkỷ trướcđó, các vị vua nhàHạ cóthể xuấtthân là những chiếnbinh dumục kỵmã — nhiều khảnăng thuộc nhóm tiền‑Tạng. Những nhóm này cóthể đã dicư xuống phíanam Sông Dươngtử, tiếpxúc với cưdân nói tiếng Tháicổ (Tai) là mộtphần cộngđồng BáchViệt, tổtiên của các thầndân nướcSở saunầy, vốn tạothành phầnlớn các dântộc thuộc vùng Hoanam Trunghoa trong các thờikỳ lịchsử vềsau.

IV) TiếngViệt trong chuỗi từnguyên Hán – Việt đồngđại

Tiếntriển nộitại của tiếngViệt phảnánh quyluật phânnhánh chung của các ngônngữ Hán – Việtcổ (BáchViệt). TiếngHán cổ từng phânhoá thành nhiều phươngngữ; tiếngViệt cũng vậy — lấy thídụ gầnnhất, chỉ sau hai thậpniên chiacắt Bắc‑Nam (1954–1975) đã đủ tạo khácbiệt rõrệt. Điềunày chothấy tiếntriển ngônngữ là quyluật tựnhiên, khôngphải ngoạilệ của tiếngViệt.

Sau năm 939, tiếngViệt táchkhỏi quỹđạo Hánhoá và tiếntriển độclập, khác với Quảngđông, Phúckiến, Hảinam hay Đàiloan, vốn tiếptục nằm trong khônggian Hánngữ. Vìvậy, tiếngViệt vừa mang đặctính Hán‑Việt, vừa giữ cấutrúc riêng biệt — một kếtquả phùhợp với lịchsử tiếpxúc và phânnhánh.

Trongkhi đó, diễnngôn NamÁ thường giảđịnh rằng các đặctính Hánngữ trong tiếngViệt chỉlà kếtquả của Hánhoá. Tuynhiên, lậpluận này bỏqua chính quátrình Hánhoá sâurộng đã biến Quảngđông và Phúckiến thành “phươngngữ Hán”. Nếu Hánhoá cóthể táicấutrúc toànbộ môhình âmtiết và thanhđiệu của các ngônngữ bảnđịa, thì việc tiếngViệt mang đặctính Hán‑Việt khôngphải bấtthường, mà là hệquả tựnhiên của sựtiếpxúc lâudài.

Dù mởrộng lãnhthổ hơn một thiênniênkỷ, tiếngViệt vẫn giữ tính thốngnhất cao: miềnBắc chịu ảnhhưởng Hán‑Việt mạnhhơn, miềnNam tiếpnhận Chăm‑Khmer, nhưng tính thônghiểu giữa các vùng vẫn bềnvững. Điềunày phùhợp với môhình phânnhánh của các ngônngữ Hán‑Việt, chứ không tươngứng với môhình phânhoá của các ngônngữ Môn‑Khmer.

Quátrình hìnhthành hoàntoàn của tiếngViệt như ngàynay cólẽ đã kéodài khoảng 1900 năm, bắtđầu từ năm 111 TCN và kếtthúc vào năm 939 SCN, khi tiếngViệt Trungđại xuấthiện như một thựcthể độclập. Đâylà thờiđiểm tiếngViệt táchkhỏi quỹđạo Hánhoá đã địnhhình tiếng Quảngđông và Phúckiến, những ngônngữ vẫn nằmtrong quỹđạo nhàHán. Về tiếntriển hiệnđại của tiếngViệt, các yếutố NamÁ Môn‑Khmer cóthể được quy về hai giaiđoạn riêngbiệt: thời tiềncổ, vốn hìnhthành tầngnền của lớp ngônngữ BáchViệt; và thếkỷ thứ mườihai, khi Annam mởrộng xuống phíanam vĩtuyến 16 và tiếpxúc với hậuduệ của những nhóm Việt cổ táiđịnhcư, nay thường được ghinhận dưới tên gọi NamÁ Môn‑Khmer. Tuyvậy, xét về phươngdiện ngônngữ, cũng như yếutố Chăm cóthể được táchbiệt trong lịchsử tiếngViệt, ảnhhưởng Môn‑Khmer chỉ đóng vaitrò hạnchế trong các giaiđoạn sớmsủa của tiếntrình hìnhthành ngônngữ.

Bằngchứng lịchsử củngcố mạnhmẽ quanđiểm này. Qua nhiều thếkỷ, các lànsóng didân Hán — gồm bộbinh, quanchức tânbổ hoặc bị lưuđày, và ngườitịnạn — đã rời vùng Hoanam Trunghoa để đến Annam địnhcư vĩnhviễn. Những nhóm này hoànhập vào cộngđồng sởtại rấtlâu saukhi Annam độclập táchkhỏi Trungquốc. Điều đángchúý, quátrình này vẫn tiếptục đếnnay, khi ngườilaođộng nghèokhó Trungquốc vẫn tiếptục trànđến Việtnam sau thậpniên 1990. Ngaycả saukhi hợpđồng laođộng và visa đã mãnhạn họ đã chọnlựa địnhcư lâudài, lấy vợ bảnxứ, làmăn và sinhconđẻcái tại xứ nầy.

Qua thời Phápthuộc kéodài gần một thếkỷ, các cảicách ngônngữ đã đểlại dấuấn lâudài lên hệthống chữviết tiếngViệt. Chữ Quốcngữ Latinhhoá được phổbiến rộngrãi khi giới tríthức dẫnđầu phongtrào thaythế hệthống chữ Hán truyềnthống đầu thếkỷ 20. Cuộc chuyểndổi triệtcăn này đánhdấu sựđoạntuyệt với chukỳ Hánhoá, làm thayđổi cấutrúc ngữnghĩa và cúpháp vốn dựatrên thưtịch Hánvăncổ trong các vănbản thếkỷ 17 trởvềtrước. Ngàynay, tiếngViệt với hai hìnhthức nói và viết được hiệnđạihoá với độ chínhxác và logic khácao, nhờ nó đã tíchcực tiếpnhận cơchế ngônngữ phươngTây như cáchđặt luậnđề, câuvăn hoànchỉnh, và hệthống chấmcâu, trongkhi vẫngiữ một khotừvựng Hánngữ đồsộ.

Khi Annam giành độclập năm 939 SCN, lãnhthổ của nó chỉ giớihạn trong vùng trồnglúa quanh châuthổ Sông Hồng, tức miềnBắc Việtnam ngàynay. Lịchsử chothấy vùngnày từng thuộc nước NamViệt từ vùng Lĩnhnam Trunghoa khoảng 300 năm trước 111 TCN. Giảthiết NamÁ về quanhệ đồngnguyên giữa tiếngViệt và Môn‑Khmer gặp tháchthức lớn ởchỗ lãnhthổ miềnTrung và miềnNam — phíanam vĩtuyến 16 — chỉđược sápnhập vào Annam sau thếkỷ 12. Sựbànhtrướng lãnhthổ này diễnra qua chiếntranh và nhượngbộ chínhtrị từ vươngquốc Chămpa (192–1832 SCN). NgườiChăm, thuộc ngữhệ NamĐảo, đã xâydựng một quốcgia hùngmạnh và lâudài ỏ vùngđất thuộc miềnTrung Việtnam ngàynay, đóng vaitrò như một vùngđệm giữa ngườiViệtcổ và các cộngđồng Môn‑Khmer. Vìthế, giảthiết chorằng tiếngViệt có quanhệ tổtiên với Môn‑Khmer là cóvấnđề, vì sựtiếpxúc giữa hai nhóm xảyra muộn hơnnhiều sovới nhữnggì mà phái NamÁ đềxuất. 

Khi các nhóm Annam táiđịnhcư tiếnxuống phươngNam, họ đã mang dòngmáu pha trộn — hậuduệ của cưdân bảnđịa Đôngbắc Việtnam và didân Hán từ miềnnam Trunghoa. Những nhóm này gồmcó cưdân các nước Sở (楚), Ngô (吳), Việt (越), Mân (閩) và các quốcgia BáchViệt khác được ghichép từ thời TâyChu. Saukhi nhàHán thôntính NamViệt năm 111 TCN, didân Hán ồạt tiếnvào Annam, kếthôn với phụnữ bảnđịa, và địnhcư vĩnhviễn tạichỗ vì đườngvề cốhương mộtphần là đã quáxa. Hậuduệ của họ tiếptục chuyểndi sâu xuống vùngđất saunày trởthành miềnTrung và miềnNam Việtnam, bắtđầu từ thếkỷ 12 đến đầu thếkỷ 16.  (4)

Vềmặt ngônngữ, tiếpxúc giữa cưdân Annam phươngNam và người nói một thổngữ Môn‑Khmer tại các vùngnúi và đồngbằng mới sápnhập cóthể đã tíchcực đưa từvựng Môn‑Khmer vào tiếngViệt nhiềuhơn. Những tiếpxúc này diễnra chủyếu tại Tâynguyên dọctheo dãy Trườngsơn và vùng châuthổ Sông Cửulong (Mêkông), nơi cưdân Khmer tậptrung. Vìthế, sựhiệndiện của từvựng Môn‑Khmer trong tiếngViệt chủyếu là kếtquả của tiếpxúc ngônngữ, khôngphải quanhệ  ditruyền.

Họcthuyết NamÁ còn nhấnmạnh ảnhhưởng Môn‑Khmer trong phânloại tiếngViệt. Tuynhiên, việc tiếngViệt có thựcsự thuộc ngữhệ NamÁ haykhông phụthuộc vào gócnhìn lịchsử hoặc địalý. Từ gócnhìn lịchsử, các tuyênbố NamÁ về quanhệ đồngditruyền giữa tiếngViệt và Môn‑Khmer vẫncòn trong suyđoán lýluận, nhấtlà khi xétđến quátrình dicư phươngBắc kéodài của ngườiViệt. Còn trong sáchvở vănchương thì thiếusót từvựng gốcKhmer. Từ gócnhìn địalý, người nói tiếngMôn‑Khmer cưtrú tại lưuvực Sông Mêkông từlâu trướckhi cưdân Annam đến địnhcư lậpnghiệp, thếmà những người ủnghộ giảthiết này thường giảđịnh rằng ngườiViệt sớmnhất vốn có gốcgác Môn‑Khmer, là họ bỏqua bằngchứng về các lànsóng didân Hán quymô lớn.

Một phép sosánh cóthể được rútra giữa các tuyênbố NamÁ này và các luậnthuyết mang tínhcách dântộcchủngnghĩa của họcgiả Việtnam; họ vốn khẳngđịnh quyền sởhữu vănhóa đốivới các divật khaiquật từ vănhoá Sahuỳnh và Óc-Eo! Những vùng này từng phồnvinh dưới các vươngtriều Chămpa lâu trướckhi ngườiAnnam bànhtrướng đến nơiđó. Các họcgiả theo chủngnghĩadântộc, mongmuốn thiếtlập một dòng tộcViệt liêntục hoàntoàn, mạnhdạn gán các cổvật ấy cho tổtiên của mình, dù thựctế các nghệnhân bảnđịa đã biếnmất từlâu.

Tươngtự, các nhà ngônngữ NamÁ tìmcách truynguyên tiếngViệt về thời tiềnsử Môn‑Khmer, tìmkiếm sựhậuthuẫn họcthuật cho các đồngnguyên Môn‑Khmer. Ngaytừ thếkỷ 20, nhiều họcgiả Việtnam đã bắtđầu khẳngđịnh quyền thừakế tổtiên đốivới trốngđồng Đôngsơn, được pháthiện trên một vùng rộnglớn khắp ĐôngnamÁ. Những cổvật này thườngđược gáncho tổtiên ngườiViệt hiệnđại, dù bằngchứng người Việtnam nắmvững  kỹthuật chếtác của chúng xemra rất hạnchế, nếu khôngnói là sốkhông. Điều đáng ngạcnhiên là rấtít họcgiả Việtnam liênhệ các trống này với cộngđồng Choang (Nùng), là những người vẫncòn sửdụng các loại trốngđồng tươngtự trong các lễlạc tại vùng Tâybắc Việtnam và vùng Hoanam, Trungquốc.

Câuhỏi thenchốt vẫncòn đó: ai mớilà chủnhân thựcsự của những trốngđồng tinhxảo được tìmthấy ở Hoanam, BắcViệt, và khắp ĐôngnamÁ? Nhữ trống đống tìmthấy ở các đảo xaxôi Indonesia liệu chúng cóphải là do ngườiViệtcổ BáchViệt — những nhóm từng dicư xuống phươngNam từ Trunghoa — mang đến? Hay chúng thuộcvề các cộngđồng NamÁ đã lantoả khắp ĐôngnamÁ từ hàngngàn năm trước? Các họcgiả theo chủnghĩadântộc thường tríchdẫn HậuHánthư (後漢書 HòuHànshū) để lậpluận rằng quân nhàHán đã huỷdiệt disản vănhóa bảnđịa của ngườiViệt, như được ghichép trong chiếndịch của Mã Viện, khi các trốngđồng LạcViệt bị thugiữ và nungchảy để đúc thành tượng ngựa đồng. Wikipedia: Ma Yuan's bronze horses).

Sựphânbố địalý của trốngđồng đặt cả ngườiViệt lẫn người Choang trong cùng một khônggian vănhóa. Vềmặt lịchsử, nhưđãnói, cộngđồng Choang vẫn tiếptục sửdụng trốngđồng trong các lễtế. Hơnnữa, truyện dângian Choang môtả rànhmạch nguồngốc truyềnthống trốngđồng của họ, trongkhi nhóm Việt‑Mường khôngcó bấtkỳ kếtnối tươngứng nào. Nếu chấpnhận các tuyênbố dântộc chủnghĩa về disản Việt, thì ngườiViệt phảilà là hậuduệ của trốngđồng; tuynhiên, lậpluận này trởnên mâuthuẫn khi họ đồngthời khẳngđịnh quanhệ với disản Ốc-Eo và Khmer, một disản vănhoá khôngcó sực hiệndiện trốngđồng (!) Vậy câuhỏi đặtra: ai mớilà hậuduệ chínhđáng của tổtiên BáchViệt? Cả về khônggian lẫn thờigian, mâuthuẫn này cầnđược giảithích.

Trongkhi giảthiết NamÁ Môn‑Khmer bỏqua trìnhtự lịchsử và ngầm khẳngđịnh rằng ngườiViệt xuấtthân từ các tổphụ bảnđịa cưtrú trên vùng lãnhthổ rộnglớn phíanam vàokhoảng 6300 TCN, rấtlâu trướckhi Annam hìnhthành một nhànước độclập. Những cưdân NamÁ bảnxứ này được giảđịnh là nói các dạng ngônngữ Môn‑Khmer cổđại, và môhình tiếngViệt được điềuchỉnh để phùhợp với khunghệ NamÁ này. Tuynhiên, sựphânloại này lại không giảithích được sựhiệndiện đồsộ của các từnguyên Hán trong tiếngViệt, vốnđã địnhhình cấutrúc ngônngữ theo mộtcách kháchẳn với các ngônngữ Môn‑Khmer truyềnthống. 

Sosánh rộnghơn, tiếngViệt khôngphảilà một ngônngữ vaymượn Hánngữ hoàntoàn như nhiều thứtiếng khác trên thếgiới, thídụ trongđó có các tiếng như Bulgari hấpthu yếutố Slav. Thayvàođó, cách tiếngViệt tiếntriển chiasẻ mộtsố đặctính với môhình Creole tiếngPháp ở Haiti, khiến nó trởthành một “phươngngữ Hán”, môhình tươngtự như tiếngQuảngđông, nghĩalà ngônngữ có cốtlõi bảnvị tốithiểu còng các giaitầng ngônngữ vaymượn phía trên hoàntoàn là đồngnguy6n với tiếngHán về mọimăt. Để tìmhiểu thêm, hãy thử nhìn xem nhiều ngônngữ quốcgia khác trên thếgiới — như tiếngTâybannha tại ChâuMỹ Latinh — không bắtnguồn từ ngônngữ bảnđịa mà từ ảnhhưởng thuộcđịa. Trườnghợp nầy lại tươngtự như tiếng Quanthoại được cưdân bảnđịa Đàiloan và Singapore sửdụng dù nó có nguồngốc ngoạilai. Quantrọnghơn, các yếutố BáchViệt tổtiên trong tiếngViệt đã tồntại trướckhi các thựcthể Hánngữ hìnhthành, nhưđược chứngthực qua ngônngữ ngoạigiao Yayu (雅語) dùng trong giaotiếp liênquốc thời ĐôngChu.

Dù giảthiết NamÁ được chấpnhận rộngrãi và ngườita đã xếphạng tiếngViệt vào ngữhệ Môn‑Khmer, bảng từ cơbản của nó vẫn chưađược ràsoát mộtcách hệthống cùng với từnguyên Hán‑Tạng. Rấttiếc là các chuyêngia NamÁ và Hán‑Tạng phầnlớn khônghề biết nhậnra sựtồntại và mứcđộ tươngứng của hơn 400 từnguyên Hán‑Việt với cấutrúc Hán‑Tạng mà tácgiả bàiviết nầy đã tìmra dựatheo nghiêncứu ngữhệ Hán-Tạng của Shafer (1974). Nghiêncứu này đã sửdụng hàngtrăm từnguyên đó nhằm khảosát các từgốc Hán‑Tạng vượtrangoài phạmvi NamÁ Môn‑Khmer truyềnthống.

Các họcgiả NamÁ cólẽ sẽ ngạcnhiên khi xem các bảng từ cơbản Hán‑Tạng được trìnhbày trong loạtbài nghiêncứu ởđây. Hơnnữa, sự bácbỏ giảthiết NamÁ Môn‑Khmer khôngchỉ đơnthuần dựatrên bằngchứng ngônngữ màcòn trên khảocổ, nhânvăn, lịchsử và họcthuật vănhoá. Lịchsử ghichép rằng tổtiên ngườiViệt xuấtphát từ vùng lúadại ở Độngđìnhhồ ở Hoanam, cáchxa bánđảo Đôngdương hàngngàndặm và có lịchđại cổxưa ítnhất là 3000 năm. Về nhânvăn, thầnthoại Việt khẳngđịnh ngườiViệt là “Con Rồng Cháu Tiên” và cũng từng đượcxemlà “hậuduệ Viêmđế” (黃帝 hay 炎帝), một truyềnthuyết cũngđược ngườiHán, giốngnhư “Con Rồng”,  dànhnhận cho dânmình. Cảhai truyềnthống dườngnhư củngcố một disản BáchViệt chung, gợiý rằng cưdân BáchViệtcổ (Yue) cóthể từng thờ cásấu (đạidiện cho “rồng”?) — một tậpgiáo không hiệndiện trong vănhóa Môn‑Khmer (xem Terrien Lacouperie, 1887). 

Về lịchsử và vănhoá, hậuduệ các nước tiền‑Tần như Sở (楚), Ngô (吳), Việt (越) và các nhànước trong vùng Hoanam khác vẫn tiếptục tưởngniệm Khuất Nguyên (屈原) vào ngày mùng Năm tháng Năm âmlịch (端午節), tưởngnhớ sựhysinh của ông trong côngcuộc khángTần (xem Trần Trọng Kim, Việt‑nam Sử‑lược; Ngô Sĩ Liên, Đại‑Việt Sử‑ký; Bo Yang, Tưtrị Thônggiám, 1983, Tập 1).

Dù ngườiViệt hiệnđại cóphảilà hậuduệ chủnhânông của những trốngđồng haykhông, họ thường tựđồnghoá mình với truyềnthống luyệnkim đúcđồng — một disản vănhóa lanrộng khắp ĐôngnamÁ, kểcả quầnđảo Indonesia như đã đềcập đến. Tuynhiên, họ thậntrọng không nhận quyền sởhữu đốivới các phếtích đềntháp Ấnđộgiáo của ngườiChăm dọc duyênhải miềnTrung, vì nhậnthức rõ nguồngốc lịchsử riêngbiệt của chúng.

Nhiệthuyết dântộcchủnghĩa của ngườiViệt tươngứng với họcthuyết NamÁ Môn‑Khmer, vốn đặt lịchsử ngônngữ và vănhóa Việtnam trong một khônggian ĐôngnamÁ rộnghơn. Cáchnhìn này đặt Việtnam vào các khuôn vănhóa tolớn, gồmcả Đếquốc Khmer — lựclượng chiếmưuthế nhất khuvực trước thếkỷ 11. Những người theo họcthuyết NamÁ được mớmlời tinrằng các cộngđồng Môn‑Khmer, vốn đểlại dấuấn vănhóa khắp ĐôngnamÁ, chínhlà tổtiên ngườiViệt. Tuynhiên, xemxét từ gócnhìn lịchsử, khôngcó phếtích Khmer nào hay hàngngàn năm cổvật tại miềnTrung Việtnam có liênhệ mảymay nào với cưdân Annam thờicổđại.

Trongsuốt ba thếkỷ, các lànsóng địnhcư tiếpxúc với cộngđồng Khmer tạichỗ đã khiến tiếngViệt hấpthu thêm yếutố Môn‑Khmer. Mộtmặt, các cộngđồng Môn‑Khmer bảnđịa tại Việtnam hiểnnhiên giữ ngônngữ riêng, tồntại trong các vùngnúi hẻolánh. Mặtkhác, cộngđồng ngườiKinh tậptrung tại các vùng đồngbằng phìnhiêu châuthổ Sông Hồng, dọc duyênhải miềnTrung, và lưuvực Mêkông, với các lànsóng địnhcư lớnnhất diễnra khoảng 320 năm trước. Bảnsắc Việt hìnhthành qua sựhônphối giữa phụnữ bảnđịa và đànông didân, tạonên cấutrúc giađình dựatrên giátrị Nhogiáo. Qua nhiều thếhệ, một cộngđồng phatrộn chủngtộc hìnhthành khi Việtnam tiếptục  mởrộng xuống phươngnam với sự tăngtrưởng dânsố đángkể và củngcố lãnhthổ bềnchặc lâudài.

Khi những bấtnhất trong giảthiết NamÁ Môn‑Khmer tiếptục bộclộ, phântích lịchsử phảiđược đặtlên hàngđầu thayvì các môhình tiềnsử suyđoán. Điều quantrọng là các họcgiả thuyết NamÁ cần nhậnthức rằng cộngđồng Môn‑Khmer bảnđịa — vốn rútvào vùngnúi xaxôi — chưatừng giữ vaitrò hànhchính trong nhànước Annam. Cưdân Annam lịchsử, sống ở miền đồngbằng và kinhthành do Trungquốc     caitrị suốt khoảng 1050 năm chođến năm 939 SCN, mớilà tổtiên thựcsự của cộngđồng ngườiKinh ngàynay, dù họ thuộc dòngdõi nào, chỉ cần họ nói cùng thứtiếng, họ là ngườiKinh.

Phái NamÁ từlâu duytrì rằng yếutố Môn‑Khmer cùng tồntại với yếutố Việt, bấtkể nhóm trước có cùng nguồngốc BáchViệt haykhông. Họ còn giảđịnh rằng cảhai nhóm đều bắtnguồn từ các cộngđồng Thái (Tai) tiềnsử. Sựhiệndiện của các cộngđồng Môn‑Khmer thiểusố hiệnnay — cólẽ là hậuduệ của cưdân bảnđịa từ các vùng Đôngdương lâncận — cóthể từng chiếmưuthế tại vùngđất của họ (Nguyễn Ngọc Sơn, 1993).

Độngđìnhhồ (洞庭湖), giữ vịthế lịchsử đặcbiệt như cáinôi của nôngnghiệp lúanước ở vùng Hoanam Trunghoa. Các khaiquật gầnđây tại vùngnày phátlộ nhiều divật lúadại được bảotồn tốt, gồmcả mẫuvật có niênđại khoảng 3000 năm. Giớikhoahọc xácnhận rằng những chủng lúa cổxưa này là nềntảng của các loại lúa đadạng được tiêudùng ngàynay. Điều đángchúý là các giống lúadại nguyênthuỷ ấy vẫn mọc tựnhiên tại chính khuvực này chođến thờinay.

Miềnnam Trunghoa và các vùng lâncận từlâu là trungtâm canhtác lúanước, một kỹthuật đã phổbiến từ thờicổđại. Disản nôngnghiệp này được thểhiện sinhđộng trong truyềnthuyết Thầnnông — tiếngHán là Chénnóng (神農), vịthần nôngnghiệp được tônkính trongcả truyềnthống Trunghoa và Việtnam. Thầnnông đượcxemlà người khaisáng kỹthuật trồnglúanước hơn 6.000 năm trước.


V) Khảocổ, disản, và vấnđề chínhtrị của bảnsắc ngườiViệt

Thuậtngữ như Thái, Việt, BáchViệt, Tày, Việtcổ, Mường, Annam, Kinh hay Việt đều tươngứng với những giaiđoạn lịchsử khácnhau. Nếu thêm thuậtngữ NamÁ vào chuỗi này, vịtrí hợplý nhất của nó cólẽ nằm giữa Thái (Tai) và Việtcổ (Yue). Theo nghĩa đó, mỗi thuậtngữ phảnánh một giaitầng lịchsử cụthể, chứkhông phảilà phươngtiện để gánghép “mọiđiều tốtđẹp” — như thànhtựu vănhóa hay cổvật — cho tổtiên ở các giaiđoạn muộnhơn. Lòngtựhào dântộc thường dẫnđến cáchdiễngiải chủquan, khiến ngườita thamlam dễ quơđũacảnắm.  “Mọiđiều tốtđẹp” — từ đồ gốm tinhxảo đến trốngđồng — với giảđịnh rằng tấtcả đều do tổtiên mình sángtạo. Hiệntượng gánghép lịchsử này khôngriênggì Việtnam; nhiều họcgiả Trunghoa hiệnđại cũng tuyênbố các cổvật tìmthấy ở Hoanam Trunghoa là của dântộcHán. Chẳnghạn, có người chorằng trốngđồng do Mã Viện (馬楥) thời TâyHán hay Gia Cát Lượng (諸葛亮) thời ĐôngHán phátminh, hoặc rằng đồđồng đã tồntại từ thời rấtsớm dù khôngcó mỏ đồng nào được biết đến ở vùng Đôngbắc — nơi nhà Thương hìnhthành (Nguyễn Ngọc San, 1993). Những tuyênbố nhưvậy làmmờ đi phântích kháchquan về tiềnsử nhânvăn.

Từđó, mộtlầnnữa, nảysinh câuhỏi cốtlõi: vậy ngườiViệt là ai? Câutrảlời nằmtrong lịchsử: xãhội Hán cổđại là kếtquả của sựhoàhợp giữa cưdân Hán và BáchViệt, gồmcả NamViệt (南越) và cưdân nướcSở trướckhi các nước này bị sápnhập vào đếquốc nhàHán. Hàng chục thếkỷ trướckhi Annam giành chủquyền, các nhóm Mườngcổ — hậuduệ của BáchViệt saukhi Việt‑Mường phânnhánh tẻra vàokhoảng thời Tần‑Hán — đã chọnlựa tự rút lênnúi để tránh bị đànáp và đồnghoá, nhờđó họ còn giữđược dòngdõi bảnđịa thuầnhơn sovới những nhóm ởlại và hoànhập với didân Hoanam Trunghoa. Qua thờigian, hậuduệ phatrộn của những nhóm táiđịnhcư này trởthành ngườiKinh — cộngđồng ngườiViệt ngàynay.

Phươngthức canhtác lúanước với ruộng ngập nước, vốn được các cộngđồng Môn‑Khmer tiếptục sửdụng, hẳn đã lanxuống phươngNam từ phươngBắc, bắtnguồn ngay phíanam Hồ Độngđình thuộc Tỉnh Hồnam. vùngđất này từlâu đượcxemlà quêhương tổtiên của cưdân BáchViệt, có niênđại khoảng 3.000 năm. Theo thờigian, nôngnghiệp lúanước lanrộng vào cả các vùngnúi, nơi các cộngđồng Tày và Nùng (Choang) còn tậptrung đếnnay. Điềunày gợiý rằng kỹthuật canhtác lúanước đã hiệndiện tại khuvực này từ rấtsớm, trướckhi được các cộngđồng Môn‑Khmer tiếpthu rộngrãi.

Miềnnam Trunghoa — nơi cưdân BáchViệt cổ có nguồngốc Tháicổ (Tai) và từng lập nướcSở — vềsau đónggóp vào thànhphần dântộc đadạng của nước NamViệt. Đây cólẽ là nơi tổtiên Việttộc phátxuất trướckhi dicư xuống vùng miềnBắc Việtnam ngàynay vì nhiều lýdo khácnhau. Những ngườidicư từ vùng Hoanam Trungquốc khôngchỉ gồm tịnạn và lưuđày, mà còncó quanlại, binhsĩ, nôdịch và những người đitheo lànsóng thuộcđịahoá của quânHán. Như đã nêura, các nhóm này hoànhập với cưdân táiđịnhcư trướcđó, tạonên một cơcấu dânsố phatrộn — một vídụ điểnhình của sự đồnghoá nhânvăn.

Qua nhiều thếhệ, hậuduệ của những người Việtcổ (LạcViệt và Âulạc)  dicư hoàntất hànhtrình tiếnxuống phươngNam và địnhcư vĩnhviễn tại Annam, đặt nềnmóng cho chủquyền đang hìnhthành. Banđầu, các thếhệ ABC đầutiên giaotiếp bằng tiếngmẹđẻ hoặc tiếng phíacha, hoặc một dạng hoàtrộn, rồi dần pháttriển thành một tiếngnói địaphương riêng. Khi các thếhệ tiếptheo tiếnxa hơnnữa dưới phươngNam, nhưlà một tuyênngôn phản-Hán, nômna là “chốngTàu”, họ vẫn tựnhận mình là “ngườiViệt phươngNam” — Việtnam — dù họ đãqua quátrình đồnghoá vănhóa. Tầnglớp cưdân này vềsau hìnhthành cộngđồng Kinh, là những người ngàynay nói tiếngViệt.

Vậy câuhỏi đặtra: yếutố NamÁ nằm ởđâu trong lýthuyết BáchViệt cổ, vốnđược củngcố bằng chứngcứ lịchsử? Dù khunghệ NamÁ Môn‑Khmer đưara các kếtnối tiềnsử có tínhcách suyđoán, những người nói các ngônngữ này cóthể cũng truy được dòngdõi về cùng nguồngốc Tháicổ (Tai) gắnbó với cưdân Annam cổ, cólẽ thuộc một nhánh BáchViệt nàođó ở phươngNam. Họ thậmchí cóthể chiasẻ quanhệ dântộc với cộngđồng Choang (Nùng) hoặc Tày (Dai) — những nhóm sắctộc đượcxemlà chủnhânông của trốngđồng. Cụthể hơn, họ cóthể liênquan đến tộc Maonan (冒南族) ở miềnnam Trunghoa, là một sắctộc cóthể có liênhệ với tổtiên ngườiMôn cổ. Giảthiết này phùhợp với giátrị vănhóa của trốngđồng, nhưng khônggồm các cổvật thuộc nền vănhoá Óc-Eo và Sahuỳnh tại Việtnam, vốndo cưdân bảnđịa khác tạora và có niênđại trướccả sựxuấthiện của ngườiChăm — những người cólẽ có mốiliênhệ bànghệ đến cộngđồng dântộc Lê tại đảo Hảinam.

Những cưdân Annam sớmnhất chỉ đến địnhcư vào dải duyênhải miềnTrung khámuộn vào khoảng thếkỷ 12. Trongkhiđó các cộngđồng Môn‑Khmer chủđạo đã cưtrú tại Đôngdương hơn 6.000 năm, táchbiệt với những ngườiViệt đếnsau. NgườiViệt vẫnlà một thựcthể riêng, khácvới 53 cộngđồng thiểusố tại Việtnam ngàynay. Trongsốđó có các nhóm Môn‑Khmer vùng miềnnúi caonguyên trungphần Việtnam — được ngườiPháp gọi là Montagnards — vẫncòn sống trên vùngđất tổ của họ dưới sựquảnlý của nhànước Việtnam. Những cộngđồng này chỉ tiếpxúc với ngườiViệt đến muộnmàng trong vài thếkỷ gầnđây. Họ cưtrú dọc biêngiới Việt‑Campuchia, trảidài trên các giãinúi phíatây vùng caonguyên, và lanxuống lưuvực Mêkông — vùngđất được Việtnam sápnhập từ Cambốt vào thếkỷ 19.

Điềunày dẫnđến hai câuhỏi thenchốt về nguồngốc ngườiViệt. Thứnhất, họ cóphảilà một nhánh của BáchViệt, hay là NamÁ Môn-Khmer? Một thựctế ngườiViệt phải đốidiện là: bấtchấp các tuyênbố dântộcchủnghĩa, ngườiViệt ngàynay — kểcả dântộcMường — cũng cóthể khôngphảilà hậuduệ trựctiếp của cả BáchViệt và Môn-Khmer. Khác với người Choang (Nùng), những người vẫn dùng trốngđồng trong lễtế bộlạc, các lýluận dântộcchủnghĩa của ngườiViệt về nguồngốc BáchViệt thường chỉ phảnánh ướcvọng được củngcố bởi niềmtin tậpthể chứ khôngcó chứngcứ khảocổ khoahọc xácthực. Thứhai, điều thường bị bỏqua là khảnăng các tậptục tôngiáo tổtiên — niềmtin vào linhhồn ôngbà luôn hiệndiện để chechở và banphước — cóthể đã xuấthiện từ 5.000 năm trước (xem Dong Zuo‑Bin, 1933; Wu Qi‑Chang, 1934; Fu Si‑Nian, 1934).

Giảthiết trên đặcbiệt thíchhợp khi khảosát các cộngđồng phươngNam sống trên những vùngđất mới sápnhập. Những nhóm này khôngcó liênhệ trựctiếp với các lànsóng didân phươngBắc đếnsau, những người đến địnhcư và hoànhập với cưdân sởtại, nhậpvào quátrình chuyểnhóa ditruyền của cộngđồng Annam đi trước họ. Sựchuyểnhóa vùngmiền này đặt nềnmóng cho quốcgia Việtnam vềsau, phùhợp với côngthức {4Y6Z8HCMK}. (Xin xem Phần VII dướiđây.)

Vềmặt dântộc, hậuduệ của họ — ngườiViệt hiệnđại — nay sinhsống ngay trên các dichỉ khảocổ nơi pháthiện nhiều cổvật, gồmcả trốngđồng. Đángchúý là, như đã nhắclại nhiềulần, các cổvật này khôngchỉ được tìmthấy tại miềnnam Trunghoa — quêhương tổtiên của BáchViệt — mà còn xuấthiện tận các đảo phíanam Indonesia.

Trongkhi việc pháthiện trốngđồng Đôngsơn ngay tại New Guinea càng củngcố bằngchứng về các mốiliênhệ thươngmại cổđại, những pháthiện này chophép các họcgiả NamÁ điềuchỉnh lýluận của họ để hoànhập với lýthuyết BáchViệt, vì cảhai khung đều thểhiện tính baoquát dù xuấtphát từ các thờikỳ lịchsử khác nhau. Sựhộinhập này đặcbiệt có ýnghĩa đốivới các thựcthể Việttộc, cả về dântộc lẫn ngônngữ, vì lịchsử của họ trảidài hơn 3.000 năm, bắtnguồn từ các ghichép về “Namman” trong cổthư Trunghoa.


Hình 5 - Trốngđồng với motif hoavăn giống Đôngsơn được tìmthấy tại Indonesia

(Source:http://en.wikipedia.org/wiki/Dong_Son_drum)

x X x

Trốngđồng Đôngsơn

Trống Đôngsơn (còngọilà trống Heger Loại I) là các trốngđồng do cưdân chếtác thuộc nềnvănhóa Đôngsơn tìmthấy tại vùng châuthổ Sông Hồng ở miềnBắc Việtnam. Các trốngđồng này được sảnxuất từ khoảng năm 600 TCN hoặc sớmhơn chođến thếkỷ 3 SCN, và là một trong những minhchứng tinhxảo nhất về kỹthuật luyệnkim của nềnvănhóa này.

Các trống được đúc bằng đồng theo kỹthuật mấtsáp (lost‑wax casting), cao tới một mét và nặng đến 100 kilôgam. Trốngđồng Đôngsơn vừalà nhạccụ, vừalà khícụ tếlễ tổtiên dântộc. Chúng được trangtrí bằng các hoạtiết hìnhhọc, cảnh sinhhoạt và chiếnđấu, hình thú và chim, cùng ghethuyền. Các hìnhảnh tàuthuyền gợiý tầmquantrọng của thươngmại đốivới vănhóa đã tạora chúng; bảnthân trống cũng trởthành hànghoá traođổi và vậtbáu truyềntự. Hơn 200 chiếc đãđược tìmthấy, trảirộng từ Hoanam Trunghoa, Việtnam và đến miềnđông Indonesia.

Chiếc trốngđồng cổnhất pháthiện năm 1976 có niênđại khoảng 2700 năm, tại Vạngiabá (万家坝) thuộc Chuxiong, Tỉnh Vânnam. Nó được xếphạng vào nhóm trống Việthệ (粤系) lớn và nặng, gồmcả trống Đôngsơn, cùng nhóm trống Điềnhệ (滇系), chia thành tám tiểu loại, đôikhi được gáncho là Mã Viện và Giacát Lượng đời ĐôngHán. Tuynhiên, HậuHánthư ghichép rằng Mã Viện đã nungchảy các trốngđồng tịchthu từ quân LạcViệt ở Giaochỉ để đúc ngựa đồng.

Việc pháthiện trống Đôngsơn tại New Guinea đượcxemlà bằngchứng về các mốiliênhệ thươngmại kéodài ítnhất mộtnghìn năm giữa vùngnày với các xãhội kỹthuật cao của Java và Hoanam Trunghoa.

(Năm 1902, F. Heger côngbố một bộsưutập gồm 165 trốngđồng lớn, và phânloại chúng thành bốn nhóm.)

(Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Dong_Son_drum)

VI) Những tươngđồng cấutrúc giữa tiếngViệt và tiếngHán

TiếngViệt là hệquả của sự kếthợp yếutố ngônngữ tầngnền BáchViệtcổ (Yue) và tầngđắp Háncổ (pre-Sintic) bêntrên vì lýdo lịchsử vănhoá lịchđại như đã trìnhbày trênđây — giốngnhư quátrình hìnhthành hai ngữchi Mânnam (Phúckiến) và NamViệt (Quảngđông) — nó không gắnbó trựctiếp với khunghệ tiềnsử NamÁ, Chodù tổtiên của ngườiViệt cổ có biết chếđúc và sửdụng trốngđồng haykhông, thànhphần dântộc ngườiViệtnam dântộc Kinh hiệnđại chỉ mới hìnhthành trong giaiđoạn Bắcthuộc muộnhơn của Annam. Ngaycả nếu chấpnhận mốc thờigian chorằng cưdân Tháicổ (Tai) tiềnthân của các dântộc BáchViệtcổ (Yue) mà Việtcổ là một chitộc của nó thì vào thờiđiểm trốngđồng xuấthiện thì vẫn sớmhơn giaiđoạn cưdân NamÁ đã có mặt ở bánđảo Đôngdương từ 6.000–4.000 năm trước. Giaiđoạn này vượt ngoài phạmvi thảoluận của bàiviết này, vốn tậptrung vào quátrình tiếntriển của tiếngViệt và cộngđồng nói tiếngViệt từ năm 111 TCN trởđi. 

Về mốiliênhệ Việtngữ với Hánngữ — vốn songhành với thànhphần dântộc ngườiViệt hiệnnay — cóthể lậpluận rằng nếu nước Việtnam cổ không giành được độclập từ NamHán (南漢) và vẫncòn bị caitrị bởi các triềuđại Trungquốc sau năm 939 SCN tớinay, thì tiếngViệt hẳn đãđược phânloại như một phươngngữ Hán khác, là cách phânloại tiếng Phúckiến hay Quảngđông kểtrên.

Sựphânkỳ giữa tiếngViệt, Phúckiến và Quảngđông — cùng các phươngngữ như Amoy, Hảinam, Triềuchâu, Đàisơn — gợiý rằng tấtcả đều pháttriển từ một ngônngữ tiền‑BáchViệt. Sau năm 111 TCN, khi nhàHán thôntính lãnhthổ rộnglớn của NamViệt, các thứtiếng này táchrời khỏi bảnngữ và chúng đã bị Hánhoá mộtcách đángkể khi bị thôntính hẳn thành lãnhthổ của ngườiHán. Tuynhiên tớinay dodù dưới bấtcứ triềuđại nào, vùngđất miền đôngnam của đạilục Trungquốc này vẫnđược gọi là “NamViệt”. Còn Annam — tức Việtnam cổ ở BắcViệt— vẫn trựcthuộc Trungquốc suốt 1009 năm chođến khi giành độclập giữa thếkỷ 10. 

Để hìnhdung tiếngViệt trong trong thời Bắcthuộc, cóthể tưởngtượng một kịchbản giảđịnh: nếu Phúckiến và Quảngđông cùng nó táchkhỏi Trunghoa cùng vào thờiđiểm đó, thì cả ba thứtiếng Việt, Phúckiến và Quảngđông cólẽ tấtcả đãđược xemnhư ba ngônngữ “hậu‑Hán” độclập. Sựmườngtượng này nhấnmạnh mứcđộ Hánhoá liêntục của Việtnam, ngaycả saukhi táchkhỏi Trunghoa — tươngtự các quốcgia BáchViệt phíabắc.

Bằngchứng ngônngữ nhânvăn chothấy một dòng tổtiên chung giữa ngườiViệt và cưdân Hoanam Trunghoa. Về từvựng, nhiều từnguyên cơbản tiếngViệt vẫngiữ dấu ấn BáchViệtcổ:

  • ‘con’ ↔ 子(仔) Phúckiến (Amoy, Mânnam)/kẽ/
  • ‘mợ’ ↔ 母 mǔ Hảinam /maj2/
  • ‘biết’ ↔ 明白 Hảinam, Amoy /mɓat7/
  • ‘soài’ ↔ 檨 Phúckiến /swãj4/
  • ‘dê’ ↔ 羊 Triềuchâu /jẽw1/
  • ‘gàcồ’ ↔ 雞公 Hảinam /kōj1koŋ1/
  • ‘gàmái’ ↔ 雞母 Hảinam /kōj1maj2/

Trongkhi tiếng Phúckiến và Quảngđông bị Hánhoá hoàntoàn và phânloại như phươngngữ Hán kểtừ lúc nhàHán thôntính nước NamViệt, thì tiếngViệt cổ ở Quận Giaochỉ (交趾) khi nó trởthành một trong chín quận của NhàTâyHán, đã đitheo một quỹđạo riênglẻ. Khácvới các vùng phíabắc, tiếngViệt pháttriển trong một cộngđồng phatrộn giữa cưdân BáchViệt bảnđịa, quanlại, và binhsĩ nhàHán. Sau độclập, các lànsóng táiđịnhcư xuống phươngNam vẫncòn tiếptục đưathêm ảnhhưởng ngoạilai vào tiếngViệt.

Các pháthiện khảocổ làm phứctạp thêm các tuyênbố dântộcchủnghĩa về cổvật bảnđịa, nhưng mốiliênhệ ngônngữ lại cóthể truytheo qua các môhình tiếntriển ổnđịnh. Khi các ngônngữ thuộcHán lanxuống phươngNam khoảng năm 100 TCN, vươngquốc Champa — bấygiờ được sửsách Trunghoa gọilà nước Lâmấp toạlạc ở phíanam Annam — còn chịu ảnhhưởng vănhoá Ấnđộ không duytrì tiếpxúc liêntục với phươngbắc và để mất liênhệ với họhàng dântộc của mình là cộngđồng tộcLê tại đảo Hảinam. Các nhóm Chăm thườngxuyên xungđột với Khmer saukhi họ bỏ Đạo Hindu và theo Hồigiáo. 

Việc Chămpa bị sápnhập vào Annam trong thếkỷ 18 chỉ đểlại dấuấn hạnchế trong tiếngViệt: ngoài địadanh, chỉ mộtsố ít từvaymượn Chăm như ‘mặttrời’, ‘mặttrăng’, hay u ‘mẹ’, ni ‘này’, nớ ‘đó’ trong phươngngữ Huế — và ngaycả những trườnghợp này cũng còn gây tranhluận.

Vượt khỏi địalý và nhânvăn, các đặctính ngônngữ vậntiết và thanhđiệu chỉcó trong tiếngHán và tiếngViệt — baogồm cả đặctính songâmtiết và từvựng bắtđầu từ phụâm chiếm sốnhiều — củngcố môhình gắnbó Hán‑BáchViệt (Sintic-Yue). Điểm này đốilập rõrệt với cách các ngônngữ Altaic không thanhđiệu như Hàn và Nhật hấpthu từ Hán: các từvaymượn được táicấutrúc trong Kanji và Hanji để phùhợp với hệthống ngữâm của từng nước.

Sựgầngũi ngônngữ giữa tiếngViệt và tiếngHán thểhiện qua ngữnghĩa, thanhđiệu, loạitừ, giớitừ, liêntừ và cấutrúc cúpháp — tấtcả đều phảnánh một disản ngônngữ chung của cả hai hệ ngônngữ. Ngoàira, tại Annam còncó chữNôm. Trướckhi loạichữ Nôm dựatrên nền Hántự này được dùng để kýâm tiếngđịaphương, nguyênsơ bảnthân nguyênngữ Hántự còn đượcdùng để ghichép tiếngNôm — ngônngữ bảnđịa — cũngnhư tên sảnvật và địadanh. Chúng tồntại songhành với chữHán: một dùng cho hànhchính, một dùng cho khẩungữ. Chẳnghạn, “Nôm” (喃) và “Nam” (南) đượcdùng cho “Nồm”; “tử” (子) và “tý” đượcdùng cho con và chuột; “xú” (丑) và “sửu” cho xấu và trâuđák để chỉ nước  (), “tơ” và “ty” (絲) cho các thuậtngữ về tơsợi lụalà, v.v.

Vượtlên các yếutố khônggian và thờigian, ảnhhưởng vănhóa Hán — đặcbiệt là Nhogiáo — tácđộng trựctiếp đến sựbiếnđổi thanhâm tiếngViệt, gồmcả phạmtrù kỵhuý và uyểnngữ. Những từ đồngâm với tên vuachúa hay bậc tôntrưởng thường phảiđược khéoléo tránhné, như lời hay lãi thay cho Lợi (利) trong tên Vua Lê Lợi, Huỳnh sovới Hoàng, v.v. vìthế, biếndịch ngữâm cũng phảilà trọngtâm khi khảosát gốc BáchViệt trong tiếngViệt, vì các biếndạng phátâm theo thờigian phảnánh các môhình ngônngữ sâuhơn. Dođó, nghiêncứu này khôngnhắm khơilại các từnguyên hoáthạch — cóthể chỉlà tàndư địaphương của lớp từ NamÁ — một lĩnhvực được phái NamÁ bảovệ từlâu.

Chânlý ngônngữ thuộcvề những ai nhậnra điều người khác bỏqua và kiêntrì bảovệ quanđiểm của mình, ngaycả khi chúng khácbiệt với phânloại Hán‑Tạng chínhthống. Ngữpháp cũng cầnđược khảosát, dù nó là thànhphần thayđổi nhanhnhất của ngônngữ. Một nghiêncứu năm 2017 đăng trên Phys.org, “The myth of language history: Languages do not share a single history,” nhấnmạnh tínhbiếnđộng này. Chẳnghạn, tiếngViệt thường tạo từ theo trậttự nghịchđảo {từgốc + bổngữ}, khácvới các phươngngữ Hán, nhưng vẫngiữ các thànhphần âmtiết-hìnhvị tươngđồng. Nhiều thuậtngữ cổ hiệndiện trong cảhai ngônngữ theo cấutrúc ngữpháp tươngtự, như “Hoanam” (華南) hay “Thầnnông” (神農) thayvì dạng đảonghịch Nánhuá (南華) hay Nóngshén (農神) để phùhợp với cúpháp tiếngHán hiệnđại. Dù khácbiệt về trậttự âmtiết, đặcbiệt trong ngữâm và ngữpháp, tiếngViệt và tiếngHán vẫn gắnbó chặtchẽ về ngữnghĩa. Điềunày thểhiện trong nhiều từ tiếngHán-Trungcổ mà tiếngViệt còngiữ ở dạng kép: 

  • đảmbảo sovới bảođảm (擔保 dānbǎo  ↔ Việthoá @ 保擔 bǎodān),
  • áiân sv. ânái (愛恩 ēn'ài ↔ Vh @ 恩愛 ài'ēn), 
  • ônhiễm sv. hoen‑ố (污染 wūrǎn  ↔ Vh @ 染污 rǎnwū).

Ngành Hán‑Việt chuyênvề từnguyên đúngnghĩa phảiđược phânbiệt với các ngành khoahọc tựnhiên, nơi các côngcụ đo lường được tiêu chuẩnhoá. Các phươngpháp ngônngữhọc dựatrên môhình Ấn‑Âu không thíchhợp để khảosát các ngônngữ thanhđiệu. Vìvậy, khôngthể kỳvọng rằng các đồngnguyên thuộc những họ ngônngữ khácnhau sẽcó dạng ngữâm giốngnhau. Chẳnghạn, một từ thường đượcxemlà vaymượn nếu ngữâm của nó gần trùng với ngônngữ nguồn — như lớptừ Hán‑Việt, vốn phảnánh sát cách phát-âm tiếngHán-Trungcổ. Ngượclại, các đồngnguyên Môn‑Khmer thểhiện sựtươngđồng ngữâm giữa nhiều ngônngữ khácnhau, làmtăng khảnăng trùnghợp ngẫunhiên. Điềunày mâuthuẫn với một địnhluật ngônngữhọc: Hai từ trong hai ngônngữ càng giốngnhau về ngữâm, thì khảnăng đồngnguyên ditruyền càng thấp. Môhình này đặcbiệt trởnên rõnét khi sosánh ngônngữ thanhđiệu và phi-thanhđiệu — chẳnghạn, tiếngViệt chồmhỗm (như trong “ngồi chồmhỗm”, và tiếng Khmer /chorahom/ sovới Hánngữ 犬坐 quánzuò (mangýnghĩa “ngồi chồmhỗm như chó”). Ai vaymượn ai đây trong trườnghợp nầy?

Tổnghợp lại với sự phântích đốichiếu từnguyên chothấy vịtrí ngônngữ‑lịchsử của Việtnam nằmtrong khunghệ Hán‑Tạng hơnlà môhình NamÁ Môn‑Khmer. Sựliêntục của các đặctính chung giữa tiếngViệt và tiếngHán — sovới khoảngcách giữa tiếngHán với tiếng Hàn hay Nhật — càng củngcố thêm lậpluận rằng tiếngViệt thuộc họ Hán‑Tạng.

VII) Những thửthách trongviệc tiếpcận từnguyên cổ tiếngViệt

Về nhânvăn, sựhoàchủng của ngườiViệt mang nhiều nét tươngđồng với quátrình tiếntriển đã địnhhình cộngđồng Hán. Nếu diễnđạt bằng côngthức, banđầu, nhóm tiền‑Hán {X}, xuấtphát từ vùng Tâytạng ở Tâynam Trungquốc, hoànhập với cưdân tiền‑Việt {YY}, giảđịnh là cưdân Tháicổ (Tai), vốn chiếmđasố dânsố nướcSở và nói một dạng ngônngữ Tày (Dai) cổ. Sựtiếpxúc này diễnra theo tỷlệ 1:2, kýhiệu X/2Y. Theo thờigian, các nhóm này hìnhthành cộngđồng BáchViệt bảnđịa {ZZZ}, cưtrú tại các nước Thục, Ngô và Việt. Hậuduệ phatrộn của họ vềsau được phânloại là Hán {HHHH}, kýhiệu 3Z4H (3 phần Z và 4 phần H). Dưới Triều Hán, các nhóm này hợpnhất trong một nhànước “Trungquốc”, thựcchất là một “liênbang Tần”, đánhdấu sựchuyểndổi từ thầndân nhàTần sang cộngđồng thứdân nhàHán.

Thànhphần dântộc của ngườiHán, vìthế, cóthể biểudiễn dưới dạng {X2Y3Z4H}, hìnhthành qua sự hoàhợp giữa tiền‑Hán (X), tiền‑Việt (YY), BáchViệt bảnđịa (ZZZ) và Hán (HHHH). Tươngtự, thànhphần dântộc ngườiViệt tiếntriển từ tiền‑Việt {YY} và BáchViệt muộn {ZZZ} đến tiền‑Việt {YYZZZ}, và giảđịnh rằng tổtiên Việtcổ hay Annam cổ cóthể biểudiễn dưới dạng {2Y3Z+4H}. Các nhóm này dần tiếntriển thành ngườiViệt hiệnđại, kýhiệu {4Y6Z8H+CMK}, trong đó {C} biểuthị yếutố Chăm và {MK} biểuthị ảnhhưởng Môn‑Khmer. Môhình hoàhuyết này phảnánh gần như trùngkhớp với thànhphần dântộc của cưdân Phúckiến và Quảngđông, vốn được địnhhình bởi các quátrình tươngtự trong thờiHán trước và sau năm 111 TCN.

Từđó, côngthức NamÁ cóthể tạm biểudiễn dưới dạng {6YCMK}, đốinghịch với côngthức ngườiViệt hiệnđại {4Y6Z8H+CMK}. Những côngthức này tómlược các quátrình lịchsử đã hunđúc nên các bảnsắc dântộc và vănhóa vừa khácbiệt vừa liênkết.

Trong các bàiviết sau sẽ phântích vềmặt lịchsử, sựtiếntriển của tiếngViệt songhành với thànhphần dântộc của cộngđồng nói tiếngViệt ({4Y6Z8H+CMK}). Lịchsử chothấy khi quân nhàTần tiếnxuống phươngNam, cưdân BáchViệt ({2Y3Z2H}) từ vùng Hồ Độngđình (Hồnam ngàynay) đã dicư hàngloạt xuống vùng châuthổ Sông Hồng. Cuộc dicư này dẫnđến sựhoàchủng với cưdân bảnđịa, gồm người Tày. Mường cổ, và cưdân vănhoá Phùngnguyên (khoảng 2000–1500 TCN) (3). Ở các giaiđoạn sau, những nhóm táiđịnhcư ({2Y3Z2H}) từng cưtrú tại vùng này hoànhập với các nhóm BáchViệt mới đến ({4Y3Z2H}). Vềsau, tổtiên Việt‑Mường ({4Y3Z2H}) chạylên vùngnúi Tâynam để tránh các cuộc cànquét của quânHán  thời Bắcthuộc từ năm 208 TCN, đặt disản ngônngữ của họ trong tiếpxúc trựctiếp với người Môn‑Khmer ({4Y+MK}). Sựtươngtác này giảithích vìsao mộtsố phươngngữ Việt‑Mường có độ gầngũi ngữâm với Môn‑Khmer.

Tómlại, nếu biểudiễn các thựcthể BáchViệt bằng các hệsố để môphỏng tỷlệ hoàchủng địnhhình thànhphần ditruyền của cưdân Annamcổ, một môhình hợplý cóthể là {2Y3Z4H}. Môhình này dựatrên tưliệu lịchsử, gồm sốliệu điềutra dânsố tăng từ 400.000 lên 980.000 trong ba quận Giaochỉ, Cửuchân và Nhậtnam chỉ trong một thếkỷ (111 TCN–11 TCN). Ngoàira, tưliệu còn ghichép rằng từ 15.000 đến 30.000 phụnữ chưa chồng của nước NamViệt bị épgả cho binhsĩ Tần trong thời Tần ngắnngủi. (Lu Shih‑Peng, 1964)

Từ thờicổ, các cộngđồng nói tiếngMường ở vùngnúi đã vaymượn từ Khmer hoặc Kinh khi giaodịch hoặc tìmkiếm uythế, khiến các từ Môn‑Khmer đivào dòng chính tiếngViệt thôngqua tiếngMường. Sựtraođổi này cũng tạo điềukiện choviệc lantruyền từvựng thiếtyếu giữa các ngônngữ trongvùng. Đúngvậy, cho mãi đến thờiđiểm ngàynay, các tiếpxúc này vẫn tiếptục khi các lànsóng didân phươngBắc táiđịnhcư tại Tâynguyên. Quansát thổâm tại các làng Mường ở Hoàbình hay cộngđồng Môn‑Khmer ở Gialai và Kontum chothấyrõ quátrình hoànhập này.

Trong thựctế, ngườiKinh vùng đồngbằng hiếm khi cần vaymượn từ của các nhóm ngưởiThượng cho những kháiniệm mà tiếngViệt đã có. Ngaycả với người Mường — nhóm cậnthân — sự dưthừa từvựng khiến việcvaymượn khôngcầnthiết. Ngượclại, chiều vaymượn thường diễnra theo hướng ngượclại. Ngoàira, nhiều từ giốngnhau cóthể chỉlà trùnghợp ngônngữ, khôngphải vaymượn. Chẳnghạn:

  • “chồmhỗm” = Khmer /chorahom/
  • “chòhõ” (đứng) = Khmer /ch ho/
  • “tầmvong” = Khmer /dm boong/
  • “rùmbeng” = Khmer /rm poong/
  •  “hầmbàlàng” = Khmer /ʔhm blang/

    (Nguyễn Ngọc San, 1993, tr. 45)

Các họcgiả NamÁ chủyếu tậptrung vào việc chứngminh gốcchung giữa Môn‑Khmer và tiếngViệt, thayvì khảosát mặt tiếpxúc xãhội‑ngônngữ cóthể giảithích các tươngđồng này. Cáchtiếpcận ấy là nềntảng choviệc xếphạng tiếngViệt vào ngữhệ NamÁ. Đồngthời,  phầnlớn họ bỏqua việc sosánh tiếngViệt với từnguyên Hán‑Tạng, cólẽ vì thiếu nhậnthức về các mốiliênhệ tiềmnăng. Khung phântích của họ cũng không xétđến các yếutố ngônngữ khác, baogồm các tươngđồng cấutrúc giữa tiếngViệt và tiếngHán. Và đó chínhlà nơi phươngpháp thứhai — phântích từnguyên — pháthuy tácdụng.

Phânloại NamÁ bùđắp cho các saibiệt trong tiếngViệt bằngcách gắnkết sự tiếntriển của tiếngViệt với các ngônngữ Việt‑Mường khác. Giảđịnh này ngụý rằng tấtcả đềucó chung một gốc trong họ BáchViệt phươngNam. Tuynhiên, xétđến các lànsóng dicư và biếnđộng lịchsử đã địnhhình tiếngViệt, phânloại này khôngthể hoàntoàn đầyđủ nếukhông tínhđến các kếtnối Hán học sâurộng của tiếngViệt.

Sựtươngđồng từvựng cơbản trong nhiều ngônngữ thường bắtnguồn từ tiếpxúc ngônngữ hơnlà quanhệ đồngditruyền, sốđếm 1 đến 5 trong hai thứtiếng Khmer và Việt cũng khôngphải là ngoạilệ. Trênthếgiới, cũngcó môhình tươngtự. Chẳnghạn, hệthống tên tháng được đặtbằng sốđếm Ấn‑Âu cho thấy rõ hiệntượng “nhiễmbẩn ngữnghĩa”: September và October vốn chỉ tháng thứbảy và thứtám, nhưng nay lại chỉ tháng thứchín và thứmười do thayđổi lịch pháp.

Về thuậtngữ, kháiniệm NamÁ Môn‑Khmer được xâydựng có chủđích nhằm gom các tàndư ngônngữ Đôngdương cònsótlại trong các cộngđồng côlập dọc vùngnúi phíatây Việtnam sâu xuống phíanam vĩtuyến 16. Đồngthời, nó baogồm cả các thổngữ ở xahơn phíabắc, thuộc vùng Hoanam Trunghoa, dưới lưuvực Trườnggiang, có niênđại từ thờitiềnsử. Phânloại này có tínhcogiãn, sẵnsàng điềuchỉnh để chứa các yếutố ngônngữ không xếphạng được vào nơikhác, như các đặctính Tày (Dai) hay Nùng (Choang).

Về phươngpháp, các chuyêngia NamÁ đã điềuchỉnh khung phântích Ấn‑Âu — vốn tạo ấntượng “khoahọc” đốivới người mới — để pháttriển nghiêncứu từnguyên Môn‑Khmer. Nhìnchung, lớp từ cơbản Môn‑Khmer tạothành tuyến NamÁ chính đivào tiếngViệt khá muộn, đặcbiệt saukhi Việtnam giành độclập và mởrộng lãnhthổ. Hệquả là hầuhết các phươngngữ Việt‑Mường có nguồngốc từ châuthổ Sông Hồng được gánghép vào các ngônngữ Môn‑Khmer Tâynam — những vùngđất vốn không thuộc Việtnam trước thếkỷ 12. Việc khẳngđịnh gốc NamÁ Môn‑Khmer của tiếngViệt vìthế truyngược về một disản ngônngữ của một cộngđồng chưatừng tồntại vào thờiđiểm ấy: cộngđồng Kinh vềsau. Xét cả về lịchsử lẫn ngônngữ, cưdân Việt‑Mường cổ khôngcó tiếpxúc trựctiếp với người Môn‑Khmer trước thếkỷ 2 TCN, cũng không liênquan đến vươngquốc Khmer, vốnchỉ hìnhthành muộn vào khoảng thếkỷ 10.

Kếtluận

Lịchsử ngônngữ tiếngViệt khôngthể được hiểu qua một lăngkính duynhất. Đó là một tấmván chồnglớp, kếthợp disản Việt, ảnhhưởng Hán, những đợt Namtiến và nhiều thếkỷ tiếpxúc khuvực. Từvựng, ngữâm và cúpháp của tiếngViệt lưugiữ kýức của những chuyểndịch cổđại, những biếnđộng nhânkhẩu và những hộitụ vănhóa. TiếngViệt khôngphải là tậphợp những kýhiệu côlập, màlà một kholưutrữ sống của lịchsử, khôngngừng vậnđộng, tiếpthu và chuyểnhóa theo thờigian.

Tầnglớp từvựng, ngữâm và cúpháp lưu giữ kýức của những chuyểndịch cổđại và những biếnđộng dântộc. TiếngViệt vìthế khôngphải một kýhiệu côlập, màlà một khotưliệu sống, khôngngừng vậndộng và chuyểnhóa.

Nguyênlý này kếttinh luậnđiểm trungtâm của chương: phânloại ngônngữ phải dựa trên hiệnthực lịchsử, khôngthể được gánghép theo những môhình tiềnsử giảđịnh.


Sách Thamkhảo:

Aitchison, Jean. 1994. Language Change: Progress or Decay? Cambridge University Press.

Alves, Mark J. 2001. “What’s So Chinese About Vietnamese?” In Papers from the Ninth Annual Meeting of the Southeast Asian Linguistics Society, edited by Graham W. Thurgood, 221–242. Arizona State University, Program for Southeast Asian Studies.

Alves, Mark J. 2007. “Categories of Grammatical Sino‑Vietnamese Vocabulary.” Môn‑Khmer Studies 37: 217–229.

Alves, Mark J. 2009. “Loanwords in Vietnamese.” In Loanwords in the World’s Languages: A Comparative Handbook, edited by Martin Haspelmath and Uri Tadmor, 617–637. De Gruyter Mouton.

An Chi. 2016–2024. Rong chơi Miền Chữ nghĩa, Vols. 1–5. Ho Chi Minh City: NXB Tổng hợp TP HCM.

An Chi. 2024. Từ nguyên. Ho Chi Minh City: NXB Tổng hợp TP HCM.

Baxter, William H. III. 1991. “Zhou and Han Phonology in Shijing.” In Studies in the Historical Phonology of Asian Languages, edited by William G. Boltz and Michael C. Shapiro. Amsterdam: John Benjamins.

Benedict, Paul. 1975. Austro‑Thai Language and Culture. New Haven: HRAF Press.

Karlgren, Bernhard. 1957. Grammata Serica Recensa. Stockholm: Museum of Far Eastern Antiquities.

Karlgren, Bernhard. 1960. “Tones in Archaic Chinese.” Museum of Far Eastern Antiquities 32: 113–142.

Karlgren, Bernhard. 1964. “Loan Characters from Pre‑Han Texts II.” Museum of Far Eastern Antiquities 36: 1–106.

Kelley, Liam C. 2012. “The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition.” Journal of Vietnamese Studies 7 (2): 87–122.

Nguyễn, Đình‑Hoà. 1966. Vietnamese‑English Dictionary. Tokyo: Charles E. Tuttle Company.

Nguyễn, Tài Cẩn. 1979. Nguồn gốc và Quá trình Hình thành Cách đọc Âm Hán Việt. Ho Chi Minh City: NXB khoahọc Xã hội.

Nguyễn, Tài Cẩn. 2000. Giáo Trình Ngữ âmlịch sử Tiếng Việt. Ho Chi Minh City: NXB giáodục.

Pulleyblank, E. G. 1984. Middle Chinese: A Study in Historical Phonology. Vancouver: University of British Columbia Press.

Shafer, Robert. 1966–1974. Introduction to Sino‑Tibetan, 4 vols. Wiesbaden: Otto Harrassowitz.

Sidwell, Paul. 2010. “The Austroasiatic Central Riverine Hypothesis.” Journal of Language Relationship 4: 117–134.

Taylor, Keith Weller. 1983. The Birth of Vietnam. Berkeley: University of California Press.

Wang, Li. 王力. 1948. HanYueyu Yanjiu 漢越語 研究. Lingnan Journal (Vol. 9. Issue 1. Jan. 1948): WangLi-1948-SinoVietnamese.pdf

Zhou, Zumo. 周祖謨. 1991. 中原音韻Zhongyuan Yinyun. Beijing: Beijing Daxue Chubanche


CHÚTHÍCH


(1)Ngữchi Choang (Zhuang) — Vahcuengh (trước 1982: Vaƅcueŋƅ, chữ Sawndip: 话壮), từ vah “ngônngữ” + Cuengh “Choang”.

Là các ngônngữ Tháicổ (Tai) bảnđịa của cộngđồng ngườiChoang (Nùng) — một nhóm dântộc, khôngphải một nhóm ngônngữ.

  • Phânbố: Quảngtây, Quýchâu (Bouyei), Vânnam.
  • 16 ngônngữ ISO 639‑3, không thônghiểu lẫnnhau.
  • Tồntại liêntục phươngngữ giữa Wuming–Bouyei và giữa Choang–Tày–Nùng–Sánchay.
  • Không tạothành một đơnvị ngônngữhọc; bất kỳ đơnvị nào baogồm Choang đều phải baogồm toànbộ Tai.

     Theo Edmondson (UT Arlington), dựatrên ngoạidanh /kɛɛuA1/ (Choang và Thái dùng đểchỉ ngườiViệt), ông chorằng sự phânkỳ Choang–Tai TâyNam xảyra không sớmhơn 112 TCN (năm thànhlập Giaochỉ) và khôngmuộnhơn thếkỷ 5–6. (Source: https://en.wikipedia.org/wiki/Zhuang_languages )


(2)^ Triều Thương còngọilà Ân, Ân-Thương (khoảng thếkỷ 17 trước Côngnguyên đến khoảng thếkỷ 11 trước Côngnguyên), là vươngtriều đầutiên của Trungquốc có văntự ghichép trựctiếp vào thờikỳ  đồđồng.

Trong giaiđoạn đầu Triều Thương nhiềulần dờiđô; đến 273 năm cuối, Bàn Canh đóngđô tại Ân (nay là Thànhphố Andương, Trungquốc), vìthế Triều Thương còn đượcgọilà Triều Ân; đôikhi cũng gọilà Ân-Thương hay Ân.

Vào hậu kỳ Triều Thương, lịchsử Trungquốc chuyển từ thờiđại dãsử sang thờiđại chínhsử. 
Thương là vươngtriều kế tiếp Triều Hạ trong lịchsử Trungquốc, và sovới Hạ thì Thương có tưliệu khảocổ phongphú hơn nhiều. Thương Thang, thủlĩnh bộlạc Thương, vốnlà chưhầu của Hạ, saukhi liênminh chưhầu đánhbại nhàHạ trong trận Minhđiều thì lậpquốc. Trảiqua 17 đời 31 vịvua; đến đời cuối Trụvương bị Chu Vũvương đánhbại và mất trong trận Mụcdã. (https://zh.wikipedia.org/wiki/商朝 )

Theo truyềnthuyết Việtnam chép trong Lĩnhnam Chíchquái, vào thời nhàÂn của Trunghoa, Hùngvương vì “khuyết lễ triềucống” nên khiến Vua Ân đemquân sang xâmphạt (gọilà “Ânkhấu”; còn ĐạiViệt Sửký Toànthư · Ngoạikỷ · Hồngbàng Kỷ lại ghilà vào đời “Hùngvương thứsáu” thì “trongnước có loạn”). 
Khi đạiquân đã ápsát biêncảnh, tại Huyện Tiêndu (Vũninh), Xã Phùđổng có một đồngtử ba tuổi tự xin ratrận, dẫnquân Hùngvương tiếnthẳng đến tiềntuyến của quân Ân: “vung kiếm mà tiến, quanquân (tức quân Hùngvương) theosau”. Vua Ân tửtrận tại trậntiền, còn đồngtử thì “cởiáo cưỡingựa mà bay lêntrời”. Từ đó Hùngvương tôn đồngtử ấy làm “Phùđổng Thiênvương” và lậpđền thờphụng. 

Tuynhiên họcgiả Việtnam cậnđại Trần Trọng Kim với tháiđộ tôntrọng sựthực chỉrõ rằng truyềnthuyết “Triều Ân xâmlược” là điều sailầm.  
Ông lậpluận: “Triều Ân Trungquốc đóng tại lưuvực Hoànghà tức các vùng nay là Hànam trựclệ Sơntây, và Thiểmtây. Còn toànbộ vùng Trườnggiang khiấy đềulà đất Mandi. Từ Trườnggiang đến BắcViệt ta đườngsá cựckỳ xaxôi. Dẫu kh ấy nước ta có Hồngbàng làmvua thì chắcchắn cũng chưa có kỷcương gì chỉ như một vị langquan của giống Mường mà thôi; vìvậy khônghề có thôngthương gì với Triều Ân thì làmsao có thể phátsinh chiếntranh? Hơnnữa sửsách Trungquốc cũng khônghề ghichép việc này. Vậy có lýdo gì để nói ‘Ânkhấu’ chính là người của Triều Ân Trungquốc?”

Dođó Trần Trọng Kim xem “Ânkhấu” chỉ là “một bọn giặccướp mang tên ấy” màthôi.

Phần bổsung:

[Có bằngchứng chothấy nước Vănlang có sựtiếpxúc với Triều Ân (nhàThương) qua cổvật đồng vào thếkỷ 10 TCN tìmthấy ở Hồnam. Trừphi bộtộc Lạcviệt từng thuộc về nướcSở cổ (?)]

Những truyềnthuyết liênquan đến Thánh Gióng khôngphải là trọngtâm của khảocứu này; ởđây chúngta chỉ xétđến phươngdiện ngônngữ. Tuynhiên, vẫn tồntại những bằngchứng chothấy quốcgia Vănlang cổ đãcó tiếpxúc với Triều Thương, qua việc pháthiện các cổvật bằng đồng của Triều Thương vào thếkỷ 10 trước Côngnguyên tại Tỉnh Hồnam.

Trong bàiviết của Lâm Khởi về nhómngười Trungquốc đưa được cổvật trởlại Hồnam, có đoạn:

“Một món đồđồng Trungquốc 3000 nămtuổi, gọilà minfanglei, sắp được đưa trởvề nơi sinhthành của nó để đoàntụ với chiếcnắp mà nó đã bị táchrời gần một thếkỷ. Cuộcđoàntụ này thựchiện được là nhờ một thươngvụ tưnhân do các nhàsưutầm Trungquốc thựchiện ngày 19 thángtư tại New York. Được tônxưng là ‘vua của mọi loại fanglei’, chiếc đồđồng hìnhvuông này có niênđại Triều Thương (khoảng thế kỷ 16–11 trước Côngnguyên), vốnlà một lễkhí dùng đựng rượu cúngtế. Nó được khaiquật tại Đàouyên, Tỉnh Hồnam, vào năm 1922.”  (Source: http://www.chinadaily.com.cn/cndy/2014-03/21/content_17366159.htm)

(3)Các nền vănhóa khảo cổ:

  • Phùngnguyên (2000–1500 TCN)
  • Đồngđậu (1500–1000 TCN)
  • Gòmun (1100–800 TCN)
  • Đôngsơn (1000 TCN–100 SCN)
  • Sahuỳnh (1000 TCN–200 SCN)
  • Óc-Eo (1–630 SCN)
(Source: https://en.wikipedia.org/wiki/Gò_Mun_culture)

(4)^  Tưliệu ditruyềnhọc HLA‑DR và DQB1 của ngườiKinh Hànội:

  • Mẫu: 103 người Kinh
  • Các alen DRB11202, 0901 và DQB10301, 03032, 0501 có tầnsuất rất cao
  • NgườiKinh là mộttrongnhững nhóm đồngnhấtnhất về HLA lớp II ở ĐôngÁ
  • Ba haplotype chiếm gần 50%
  • Gầngũinhất với ngườiThái và ngườiHoa ở nhiều vùng
  • Kết quả phùhợp với bằngchứng khảocổ và ngônngữ về nguồngốc ngườiViệt

     (Nguồn:  http://www.taiwandna.com/VietnamesePage.htm:)

DNA HLA‑DR và ‑DQB1 Đadạng trong Quầnthể ngườiKinh tại Hànội 

Vu‑Trieu A, Djoulah S, Tran‑Thi C, Nguyen‑Thanh T [sic], Le Monnier De Gouville I, Hors J, Sanchez‑Mazas A.  
Nguồn: Department of Immunology and Physiopathology, Medical College of Hanoi, Vietnam. (Khoa Miễndịchhọc và Sinhlýhọc, Trường Y Hànội, Việtnam)

 

Tómtắt (bảndịch)

Chúngtôi báocáo kếtquả địnhdạng (typing) các locus HLA‑DR B1, B3, B4, B5 và DQB1 bằng kỹthuật PCR‑SSO (polymerase chain reaction sequence‑specific oligonucleotide) trên mẫu gồm 103 ngườiKinh tại Hànội, đồngthời sosánh tầnsuất alen và haplotype của họ với các quầnthể ĐôngÁ và Đạidương được khảosát trong Hộinghị HLA Quốc tế lần thứ 11 và 12. NgườiKinh thểhiện một số alen có tầnsuất rấtcao tại locus DRB1 (1202 — đãđược xácnhận bằng giảitrình tự DNA — và 0901) và DQB1 (0301, 03032, 0501), khiến họ trởthành một trong những quầnthể đồngnhấtnhất về HLA lớp II từng được khảosát tại ĐôngÁ. Ba haplotype chiếm gần 50% tổng tầnsuất haplotype ở ngườiViệt. Haplotype phổbiến nhấtlà HLA‑DRB11202‑DRB30301‑DQB10301 (28%), đồngthời cũng chiếm ưuthế ở ngườiHoa miềnNam, Micronesia và Java. Ngượclại, DRB11201 (phổbiến ở Tháibìnhdương) hầunhư vắngmặt ở ngườiViệt. Haplotype phổbiến thứ hai là DRB10901‑DRB401011‑DQB103032 (14%), cũng thường gặp trong nhiều quầnthể người Hoa, nhưng với chuỗi phụ (accessory chain) khác — DRB40301 — ở phần lớn các nhóm dântộc. Khoảngcách ditruyền được tínhtoán giữa các quầnthể Áchâu và Đạidương khảosát theo DRB1 và DQB1 chothấy ngườiViệt gần với ngườiThái và các nhóm Hoa ở nhiều vùng khácnhau. Những kếtquả này phùhợp với bằngchứng khảocổ và ngônngữ, đónggóp vào việc làm sángtỏ nguồngốc của quầnthể ngườiViệt — một vấnđề trướcđây chưa từng rõràng.

PMID: 9442802 [PubMed - indexed for MEDLINE]

Source: HLA-DR and -DQB1 DNA polymorphisms in a Vietnamese Kinh population from Hanoi.