Friday, January 2, 2026

Những Vấnđề Trongviệc Sosánh Từnguyên TiếngViệt

Từ Cộirễ Cổđại đến Bảnsắc Hiệnđại


by dchph in collaboration with Copilot



Nghiêncứu này tổnghợp các quanđiểm ngônngữhọc và lịchsử mang tínhđốinghịch về nguồngốc tiếngViệt, hoàđồng chứngcứ từ tầngnền Việt (Yue) bảnđịa với tầngphủ Hánngữ kếtiếp. Khi hoàđiệu những giảthuyết khácbiệt, thiếtlập côngtrình táicấutrúc tiếngViệt trên nềntảng của một ngônngữ hoàhợp: bámrễ sâu trong nềntảng bảnđịa cổxưa nhưng đồngthời qua nhiều thếkỷ Hánhoá nó đã pháttriển mạnhmẽ, và quađó đềxuất một môhình khảdụng trongviệc nghiêncứu phươngthức sosánh những tiếpxúc ngônngữ đadạng và khubiệt quátrình hìnhthành bảnsắc riêngbiệt.

Để nốikết các tườngthuật đốinghịch về lịchsử ngônngữ tiếngViệt, phântích này theodõi sựtươngtác giữa nềntảng Việt (Yue), ảnhhưởng Hánngữ và các phongtrào cảicách hiệnđại. Nó chỉra cách mà những tầnglớp vaymượn cổđại và các yếutố bảnđịa tồntại songhành đã hoàquyện thếnào để tạonên một ngônngữ vừa độcđáo Việtnam, vừa gắnkết mậtthiết với các ngônngữ lánggiềng trong khuvực.

I) Thếmạnh của Hánngữ trong tiếngViệt

Bảnsắc tiếngViệt chothấy đólà một ngônngữ được hìnhthành qua những cuộc tiếpxúc: tiếngViệtcổ (Yue) bảnđịa, ngônngữ cungđình Trunghoa, văntự thuộcđịa và các tràolưu đổimới hiệnđại. Côngtrình này lýgiải những mạchnguồn ấy thành một trầnthuật thốngnhất, chỉra phươngcách mà cộirễ cổxưa vẫncòn ghidấu trong mốihàihoà với bảnsắc hiệnđại.

Sosánh các từnguyên thuộc ngữhệ Hán‑Tạng gợiý rằng tiếntrình lịchđại của tiếngViệt hiệnđại phảnchiếu một quỹđạo trongđó cưdân BáchViệt phươngnam (NamViệt/Yue) sớm thiếtlập các thểchế tựtrị trên vùng Hoanam Trunghoa trướckhi quyềnlực đếquốc nhàHán được củngcố. Tuyvậy, phạmvi của ngônngữhọc Hán‑Tạng khôngchophép xếp tiếngViệt vào ngữhệ này, dù bằngcách gộp nó vào nhánh Hánngữ hay dùcó sosánh thànhcông với tiếngQuảngđông hoặc các phươngngữ Hán khác. Việc phânloại nhưvậy đòihỏi một nềntảng từnguyên rộnghơn và một khung sosánh khá chặtchẽ.

Hiệntượng táitạo từvựng vẫn tiếptục tồntại đến thời hiệnđại, thểhiện qua sựluânchuyển xuyênvùng như đãthấy qua các thuậtngữ hiệnđại như cộnghoà 共和 (gònghé, ‘republic’) và dânchủ 民主 (mínzhǔ, ‘democracy’). Đây vốnlà từ tântạo Nhậtbản với kếtcấu từ hìnhvị Hánngữ, sauđó được táivay vào tiếngHán và cuốicùng thấmvào tiếngViệt. Hànhtrình này minhhoạ sựtraođổi liêntục của chấtliệu ngônngữ giữa những tiếng Hán vùngmiền, Nhật và Việt.

Đồngthời, quátrình địaphươnghoá đã chuyểnhoá nhiều từ Hán‑Việt thành các hìnhthức HánViệt hoá‑bảnđịa. Trong những trườnghợp này, nghĩa nguyênthuỷ khôngphải lúcnào cũng được giữlại — hiệntượng này còn dễ thấyrõhơn trong kýtự Kanji Nhậtbản sovới Hán‑Việt. Chẳnghạn, lịchsự (đồngnghĩa ‘lịchthiệp’) xuấtphát từ 歴事 lìshì (cónghĩalà ‘trảinghiệm’ trong tiếngHán), và tửtế (là ‘tốt bụng’) lại đếntừ 仔細 zǐxì (ýnghĩa nguyênthuỷ là ‘tỉmỉ’). Bêncạnh những thích-ứng này, tiếngViệt còn pháttriển một lớptầng từvựng tựtạo dựatrên chấtliệu chữ Hán.


Bảng 1 – Từghép Hán‑Việt tựtạo

Mộtsố từghép đặcthù Việtnam và khônghề xuấthiện trong cáchdùng tiếngHán, như linhmục (“mụcsư linhhồn”, ghép từ “linh” + “mục”, tức ‘‘ngườichăn’ + linhhồn’ ), hoặc giảkimthuật (“thuật luyệnkim giả”), thường đượcdùng đểchỉ “thuật luyệnkim”. Những từ khác, như linhcẩu (“chó linh”, nghĩa là “chó linhthiêng”), là các sángtạo ngữnghĩa bảnđịa. Thêmvàođó còncó những từ đã khôngcòn sửdụng trong tiếngHán hiệnđại hoặc đã biếndạng về mặt ngữnghĩa.


Gloss ChữHán
Hán+Việt
city 城鋪 thànhphố
week 旬禮 tuầnlễ
presence 現面 hiệndiện
entertainment 解智 giảitrí
lack 少寸 thiếuthốn
proud 倖面 hãnhdiện
pleasant to the eyes 玩目 ngoạnmục
orderly, proper; honest, upright 眞方 chânphương
(polite, respectful) you 貴位 quývị
traditional 古傳 cổtruyền
festival 禮會 lễhội
legend 玄話 huyềnthoại
satisfy 妥滿 thoảmãn
polite 歷事 lịchsự
important; significant 關重 quantrọng
millionaire 兆富 triệuphú
billionaire 秭富 tỷphú
thermometer 熱計 nhiệtkế
(mathematics) matrix 魔陣 matrận
biology 生學 sinhhọc
subject 門學 mônhọc
average 中平 trungbình
cosmetics 美品 mỹphẩm
surgery 剖術 phẫuthuật
allergy 異應 dịứng
hearing-impaired 欠聽 khiếmthính
bacteria; microbe; germ 微蟲 vitrùng
to update 及日 cậpnhật
data; information 與料 dữliệu
forum 演壇 diễnđàn
a smoothie (drink) 生素 sinhtố
dojo; martial art school 武堂 võđường
cemetery 義地 nghĩađịa
a surgical mask 口裝 khẩutrang
thermometer 熱計 nhiệtkế
television (medium) 傳形 truyềnhình
broadcast 發聲 phátthanh
animation 活形 hoạthình
subtitles 附題 phụđề
transliterate 翻音 phiênâm
transcribe 轉字 chuyểntự
visa 視實 thịthực
nurse 醫佐 ytá
artist, musician, actor, comedian, 藝士 nghệsĩ
singer 歌士 casĩ
musician, songwriter, composer 樂士 nhạcsĩ
poet 詩士 thisĩ
dentist 牙士 nhasĩ
artist, painter 畫士 hoạsĩ
parliament member, congressman 議士 nghịsĩ
prison, concentration camp 寨監 trạigiam
victim 難人 nạnnhân
special forces 特攻 đặccông
farm 莊寨 trangtrại


Tráingược với những giảđịnh hiệnđại, tiếngViệt thíchhợp được môtả như một ngônngữ mangnặng đậmchất Hánngữ, với một cáchthức mà tiếngNhật hay tiếngHàn khôngcó. TiếngViệt thừahưởng một lớptầng từvựng thuộc tiếngHán Trungđại dàyđặc, và nhiều thànhtố được phânloại là Hán‑Việt lại trùnglặp dưới kháiniệm phạmtrù Hán-Nôm thôngqua quátrình hoànhập vào lờinói hằngngày bêncạnh từvựng bảnđịa.

Một vídụ điểnhình là nguyênngữ 順 (shùn, HV thuận), vốn biểuđạt những biếnthể tuỳvào ngữcảnh trong các từghép:

  • 順利 (shùnlì, HN suônsẻ)
  • 孝順 (xiàoshùn, HN hiếuthảo)
  • 順便 (shùnbiàn, HN sẵntiện)
  • 逆順 (níshùn, HN ngượcxuôi)

Những vídụ nhưvậy chothấy các hìnhthức Hánngữ, vốn từng thuộc vănviết, đã dần thấmvào khẩungữ tiếngViệt, làmmờ ranhgiới giữa từvựng hànlâm và cáchdùng bìnhdân.

Bảng 2 – Trườnghợp nghiêncứu về từ mới Hán‑Việt được tạora từ hìnhvị Hánngữ


Thuậtngữ tiếngViệt côngcuộc—một từ quenthuộc trong ngôntừ hiệnđại là một từghép trangtrọng cónghĩalà “sựnghiệp”, “tiếntrình”, hay “côngtác”—từlâu là một khúcmắc về mặt từvựng và gợi nhiều tòmò vềmặt từnguyên họcthuật. Mặcdù thường bị hiểunhầm như một từghép Hán‑Việt tươngứng trựctiếp với các dạng chữHán 公局 hay 工局 (gōngjú,  tươngứng với “côngsở”, “cơquan”), và nguồngốc đúngđắn của nó lại nằm ở 工作 (gōngzuò, “côngtác”, “côngviệc”), trongđó yếutố cuộc không xuấtphát từ (jú, HV cục) mà từ (zuò, HV tác). Sựkiện cuộc trong tiếngViệt vừa khácbiệt về ngữâm lẫn ngữnghĩa với cả cáchđọc Hán‑Việt tiêuchuẩn (“tác”) lẫn dạng phảnánh âm tiếngQuanthoại /zuò/, kếtquả đến từ một mạnglưới biếnđổi ngữâm lịchsử, sựhoàđiệu các âmvị đi liềnnhau, với các mối liênhệ ngữnghĩa–ngữâm; tấtcả cùng soisáng lịchsử phứctạp của ảnhhưởng từvựng tiếngHán tại Việtnam.

Từ côngcuộc trong tiếngViệt hiệnđại—cả vănviết lẫn khẩungữ—được dùng để chỉ một sựnghiệp hay một côngviệc có tính tậpthể, như “dựán”, “nghiệpvụ”, “tiếntrình”, đặcbiệt trong ngữcảnh hànhchính hoặc lịchsử (vídụ: côngcuộc khángchiến, côngcuộc đổimới). Đâylà một từghép Hán-Việt gồm công (từ “công”) và cuộc ( jú, HV cục)

Sựnhầmlẫn với 公局 hay 工局 là điều dễhiểu, vì cả đều đọclà công trong Hán‑Việt, và (HV cục) là một hìnhvị phổbiến dùng chỉ các cơquan hànhchính. Tuyvậy, côngcuộc là một từghép hiệnđại được mượn theo môhình 工作 (gōngzuò), thích-ứng được về mặt ngữâm và ngữnghĩa trong hệthống tiếngViệt. Mặcdù côngtác là cáchđọc Hán‑Việt chínhquy của 工作côngcuộc lại xuấthiện như một từ mới trongđó cuộc (局) được bảnđịahoá hoạtđộng chỉ phảnánh ngữnghĩa bảnđịa tươngứng với chữ zuò, chứ khôngphải của .

Sựxuấthiện của những từghép Hán‑Việt như côngcuộc phảnánh quátrình vaymượn và thích-ứng ngữnghĩa lâuđời trong toànbộ vànhđai Hánhoá, tức Nhậtbản, Triềutiên và Việtnam—thườngđược gọichung là khuvực “Hánngữ”. Trong ngữcảnh này, những từ mới dànhcho các kháiniệm hiệnđại thườngđược tạora từ hìnhvị Hánngữ rồi được môphỏng ngữâm mang ngữnghĩa của từ cận âm khác dựatheo những niêmluật cóquytắc nhưng đôikhi mangtính sángtạo.

Hán Trungđại, như được ghilại trong các vậnthư kiểu Thiếtvận (Qieyun, thếkỷ VII), có một cấutrúc âmtiết rất phântiết. Đốivới chữ (zuò), dùng trong 工作 (gōngzuò), cách phụcnguyên phổbiến là /tsa/ hoặc /tsak/, với các đặcđiểm:

– phụâm đầu: ts‑ (xát‑xát vôthanh),
– âmchính: /a/, đôikhi có bánâm vòm,
– vầncuối: ‑k (tắc âm vòm mềm vôthanh), thuộc loại thanhnhập (rusheng)

Trong Hán‑Việt, 作 đọclà tác, phùhợp với quyluật đốiứng  ‑Việt.

Những điểm thenchốt:
  1. Chuyểnđổi phụâm đầu [ts‑] → [k‑] là bấtquytắt, gợiý một quátrình bảnđịahoá hoặc vaymượn từ khẩungữ.

  2. Vầncuối môingạc [‑əwkpʔ] được bảotoàn trong cuộc, với ‑k và bánngyênâm ‑w‑ tươngứng với MC ‑ak, phùhợp với cấutrúc âmcuối tiếngViệt.

  3. Thanhnặng phùhợp với thanhnhập trong Hán‑Việt truyềnthống.

Liênhệ ngữnghĩa–ngữâm: cuộc cục, và cáibóng của 局

Một lýdo khiến côngcuộc thường bị hiểunhầm là 公局 hay 工局 là sự tươngđồng ngữâm–cấutrúc giữa cuộccục (局):
  • 'cục' HV: cục, Mandarin /jú/, MC /kuawk/dùng cho đơnvị  hànhchính hoặc vậtthể chứa đơnvị đó;

  • 'cuộc', pháttriển từ 作, nhưng do hìnhthức và chứcnăng tươngtự, thường bị táiphốitrí nhưlà có nguồngốc từ 局.

Sựnhầmlẫn càng tăng do sự hộitụ vậnmẫu: cục /kuawk/ và cuộc /kəwkpʔ/ đều ó cấutrúc [k‑w‑k‑p̚], với âmcuối đóngmạnh và nguyênâm trònhoá.

Hoàtrộn ngữnghĩa trong quátrình hìnhthành từghép

Trong cả Hánngữ lẫn tiếngViệt, các từghép liênquan đến
工作 (côngviệc), (cơquan), và (làm) đều thuộc miềnnghĩa 'nghiệpvụ' với ýnghĩa mà cuộc được dùng trong trườngnghĩa này.

Trong Hánvăn, (jú) có nghĩalà “cục”, “váncờ”, rồi mởrộng thành “cụcdiện”, “tìnhthế”; còn (zuò) trong từghép mang nghĩalà “làm”, “tácđộng”, phùhợp với chứcnăng của cuộc trong các tổhợp như côngcuộc vậnđộng.

Do đó, sựtươngđồng ngữâm giữa cuộccục tạo điềukiện cho liênhệ ngữnghĩa–ngữâm (nhiễmâm, dânngữ nguyênthuỷ), nhấtlà khi bốicảnh hoặc trìnhđộ Hánvăn hạnchế.

Hiệntượng này cóthể gọilà “hoàđiệu nhiễmâm” hoặc “liênhệ đồnghoá”, và là một quyluật táidiễn trong miền Hán‑Việt.

Kếtluận - Phântích từ Hán-Nôm côngcuộc, đặcbiệt là biếnđổi ngữâm tạonên hìnhvị cuộc, là một trườnghợp điểnhình về tầnglớp, sángtạo và phânhợp trong tiếpxúc Hán‑Việt. Qua sựchuyểnhóa từ Hán Trungđại /tsak/ thành cuộc, ta thấyrõ sựtươngtác giữa sự thíchứng ngữâm, táiphốitrí ngữnghĩa và đồnghoá cấutrúc:

 ▪ Chuyểnđổi [ts‑] → [k‑], tuy bấtquytắc, phảnánh xuhướng bảnđịahoá khẩungữ hoặc vaymượn phươngngữ.

 ▪ Bảotồn vần môingạc [‑əwkpʔ] phùhợp với âmvị tiếngViệt, tạo điềukiện cho sự hìnhthành các hìnhvị mới và dođó nhầmlẫn với cục.

 ▪ Vaitrò của sựnhiễmâm trong cấutạo từghép và hoàtrộn ngữnghĩa chothấy ranhgiới giữa từvựng Hán‑Việt và bảnđịa là thấmnhuần và linhhoạt.

Chứngcứ sosánh trong khuvực Hánngữ chothấy vừa có những cộirễ chung, vừa có những lộtrình riêng của tiếngViệt. Mặcdù côngcuộc có nguồngốc từ 工作, hìnhthức và nghĩahiệnđại của nó thểhiện sựtổnghợp sángtạo giữa disản Hánngữ, thích-ứng bảnđịa và quátrình táitạo từvựng liêntục của tiếngViệt.



Khi bànvề từnguyên của các từ Hán‑Việt, tácgiả giớihạn phạmvi phântích vào những tưliệu có ảnhhưởng nộiđịa trong khung thamchiếu Hánngữ nhằm mụcđích sosánh. Trên thựctế, điềunày cónghĩalà tâptrung vào những nguyênngữ xuấthiện đồngthời trong cả tiếng Hán lẫn Việt, kểcả những từ ngoạilai đi vòngqua tiếngHán trước khi đivào tiếngViệt.

Những vídụ sau minhhoạ cách sànglọc này:

  • TiếngViệt mắt được biểuthị bằng 目 mù (HV mục) trong tiếngHán, cóthể liênquan đến tiếng Mãlai “mata”.
  • TiếngViệt gạo “rice”, biểuthị bằng 稻 dào, tươngứng với tiếng Thái /gaw/.
  • Những từ ngoạilai khác gồm: HV kỹsư (技師 jìshī), từ vaymượn từ tiếngNhật gishi—tráinghĩa với cáchdùng tiếngHán hiệnđại đểchỉ “thợmáy”; bệnhviện (病院 bìngyuàn), cũng từ tiếngNhật; ưumặc (幽默 yōumò, dịch từ tiếngAnh “humor”); câulạcbộ (俱樂部 jùlèbù, “club”); và các tênquốcgia như Anh (英 Yīn “England”), Mỹ (美 Měi “America”) từ tiếngAnh, Pháp (法 Fǎ “France”) từ tiếngPháp, và Đức (德 Dé “Germany”) từ tiếngĐức “Deutsche”.
  • Những môhình biếnđổi ngữâm quansát được trong từngữ cốtlõi giữa tiếngHán và tiếngViệt gợiý sựbảotồn của tầnglớpnền của tầngngônngữ Việt (Yue) cổhơn. Những tiếpxúc này rõràng có niênđại sớm hơn cả quátrình bànhtrướng Tần-Hán xuống miềnnam Trunghoa (206 TCN–220 SCN). Nhiều từvựng thuộc tầngnền này cònđược ghichép vữngchắc trong Khanghi Tựđiển (康熙字典), bộ từđiển đờiThanh do Vua Khanghi chủtrì biênsoạn, nhấnmạnh mứcđộ ănrễ lịchsử sâuđậm của chúng. (1)

Nhìn từ gócđộ ngônngữhọc, sựápđảo của các đặctính Hánngữ trong hầuhết từngữ tiếngViệt—baogồm thanhđiệu, cấutrúc hìnhthái, đặctính ngữâm, và xuhướng songâmtiết—đã khiến nhiều nhànghiêncứu suydiễn rằng tiếngViệt có nguồngốc Trunghoa. Tuyvậy, khi mứcđộ hộinhập ngữâm và ngữnghĩa tănglên, khảnăng vaymượn cũng tăngtheo. Điềunày thểhiện rõnhất trong các ngônngữ Tai‑Kadai, đặcbiệt là trong phânnhánh Tai‑Kam‑Sui, nơi hầunhư mọi từvựng đều cóvẻ xuấtxứ từ các nguồn Hánngữ. (cf. Comparative Sino-Tibetan Etymologies)

TiếngViệt gạo (“gạomễ”) thườngđược sosánh với tiếngThái /kao/, trongkhi nếp trong (“gạonếp”) tươngứng với Thái /nɛp/ và Lào /nèep/. Những tươngứng này songhành với các dạng chữHán 稻 dào (HV đạo, HN gạo) và 糯 nuò (HV nọ, HN nếp), vốn cũnglà những từ vaymượn từ Việt-Thái (Taic-Yue) trong chính tiếngHán.

Ngượclại, tiếngViệt lúa (chỉ “lúanước”) cóvẻ là một từ bảnđịa thuộc tầng Việt‑Thái, tươngứng với Lào /lua/ và Choang /luə/, và đốiứng trựctiếp trong tiếngHán lạilà 來 lái (HV lai) (Xem Bảng 3 dướiđây) — từ vềsau dùng đểchỉ kháiniệm lại. Hiệntượng này tháchthức nhậnđịnh của A. Starostin (1953–2005) cho rằng lúa phảnánh một từvaymượn Háncổ xuấtphát từ 稻 dào, được phụcnguyên thành [ lhu:ʔ < dạng nguyênthuỷ ly:wH ] với các nghĩalà “gạo”, “hạt”, và “lúa”. Khung sosánh rộnghơn của Starostin mởrộng đến tiếngMiến /luh/ (chỉ “một loài hạt”, Panicum paspalum), tiếng Kachin /c^əkhrau1/ (“lúa sắp xay vỏ”), và tiếng Kiranti lV (chỉ “kê”), mà ông xemnhư thuộc một trườngnghĩa bảnđịa của tiếngHán. Tuyvậy, cách hiểu này đòihỏi phải phânbiệt cẩntrọng giữa các dạng Việt‑Thái thừahưởng—là thứ tiếng mà tiếngViệt chiasẻ trậttự cúpháp [ danhngữ + bổngữ ]—và các tầngphủ Hánngữ về sau.

Một sựthậntrọng tươngtự cũng cần ápdụng đốivới những từ thườngđược xếpvào tầng Môn‑Khmer thuộc ngữhệ NamÁ. Khi các đốiứng ngữâm khôngphùhợp với quyluật biếnđổi âmthanh đãđược xáclập, hoặc khôngtươngứng về trườngnghĩa, thì những từ này cókhảnăng caohơn là các từvaymượn liênnhóm do ảnhhưởng từ sự cậnkề địalý và tiếpxúc lâudài.


Bảng 3 – Nguồngốc chữviết và sự hộinhập từnguyên: 來 và 麥, và trườnghợp tiếngViệt “lúa” và “lại”

    Chữ 來, nay được hiểu rộngrãi với nghĩalà “lại”, vốncó nguồngốc là một tượnghình (象形) miêutả bônglúamì. Các biếndạng tổtiên của nó baogồm 麥 (OC mrɯːɡ, “lúa”) và 麳 (OC rɯː, “lúamì”). Trong các dạng chữ nguyênsơ, nétdọc ở giữa biểuthị bônglúa, hai nét hướnglên haibên biểuthị lá, và các nét hướngxuống biểuthị thân và rễ. Một nétngang ở đỉnh thườngđược thêmvào, cóthể nhằm nhấnmạnh phần bông. Sosánh với 禾, vốncó cấutrúc tươngđồng.

    Chữ này được mượn để biểuthị ýnghĩa “đến” ngay trong Giápcốtvăn. Trong thời TâyChu và Chiếnquốc, các bộphận ngữnghĩa như 止 (“chân”) và 辵 (“đi”) được ghépthêm vào thành 麥 để phânbiệt ýnghĩa nôngnghiệp nguyênthuỷ với độngtừ mới nổi. Mộtsố họcgiả chorằng dạng pháisinh 麥, được hìnhthành bằng cách thêm 夊 (“đi chậm”), mới là chữgốc biểuthị nghĩalà “đến”. Tuyvậy, những bổsung này khôngđược giữlại trong các hệthống chữviết này vềsau. Nếuvậy, nghĩa “đến” của 來 và nghĩalà “lúamì” của 麥 cóthể đã tráođổi chonhau do 來 đượcdùng nổitrội nhưlà một độngtừ.

   Thuyết Thuyếtvăn (說文) liênkết trườngnghĩa “lúamì” và “lại” theolối thầnthoại: 天 所 來 也 (“nó lại từ Trời”). Cáchhiểu này cóthể được củngcố bởi bằngchứng khảocổ chorằng lúamì khôngphải sảnvật bảnđịa của Trunghoa màlà được dunhập “từ Trời”.

    Về ngữâm, cả 來 và 麥 đều được phụcnguyên với phụâm đầu *mr‑ trong Háncổ. Ở 來, âmđầu lỏng /l/ được giữlại, còn 麥 giữ lại âmmũi /m/. Về từnguyên, 來 cónguồngốc từ Proto‑Sino‑Tibetan /la‑j/ ~ /ra/ (“đến”) (STEDT), vàlà đồngnguyên với:

  • 迨 (Háncổ *l'ɯːʔ, , “tới”)
  • 賚 (HC *rɯːs, “rưới” với ýnghĩalà “bancho”)
  • 蒞 (HC *rɯbs, “lại”) – Schuessler (2007)
  • Burmese လာ (la, “lại”)
  • Proto-Vietic *laːjʔ

    Sựbiếndạng sang tiếngViệt lại (HV lai) cóthể liênquan với 來 (HTC ləj < HC *mrɯːɡ, cónghĩalà “tới”). 

    Baxter–Sagart (2014) ghinhận rằng 來 có quỹđạo pháttriển bấtquytắc, cóthể do mất âmcuối /‑k/ trong một biếndạng khôngnhấnmạnh, rồi vềsau lạiđược nhấnmạnh lại:

來 *mə.rˤək > *mə.rˤə > *rˤə > loj > lái (HN “lại”)

    Tuyvậy, chiềuhướng này khônggiảithích trọnvẹn sựhiệndiện bấtquytắc của âmcuối /‑ʔ/ (thanhnặng) trong tiếngViệt. Nếu giảđịnh có một giaiđoạn trunggian nơi */‑k/ > /‑ʔ/ rồi nó mấtđi, chophép tiếngViệtcổ vaymượn trong khoảng thờiđiểm đó, thì sự biếnđổi thanhđiệu cóthể giảithíchđược. Nhưng sựbiếndạng ở tiếngViệt lại khônggiữ dấuvết của ‑rˤ‑ (như ‹r› hoặc ‹s›), gợiý một lần vaymượn muộnmàng, saukhi r(ˤ) > l đã xảyra. Điềunày đặtra vấnđề phải bổsung thêm về thanhđiệu và sựhộinhập ngữâm.

   Để sosánh, tựdạng Choang (tiếng Tráng hoặc Nùng) /lai/ tươngứng với Proto‑Tai ʰlaːjᴬ (“rất”) [sosánh tiếngViệt lắm], vốn cónguồngốc từ chữ Háncổ 多 (OC t.lˤaj). Các đồngnguyên baogồm:

  • Thai lǎai
  • Lao lāi
  • l̇aay
  • Shan lǎay
  • Bouyei laail
  • Saek หล่าย
  • Jizhao laːi²¹

    Những biếndạng này gợiý một mạnglưới ngữâm–ngữnghĩa rộnglớn mà 來 thamgia, trảidài từ Hán‑Tạng, Việtcổ đến Tai‑Kadai.


II) Ngoạilệ ngữâm và sosánh phươngngữ

Nguyêntắc ngoàilề này không mangtính phổquát. Trong mộtsố trườnghợp, một âmtiết hìnhvị đơn được xếpvào loại “từ” lại bị chiphối chủyếu bởi sựluânphiên chuyểnđổi ngữâm, đồngthời mangthêm những đặctính vượtngoài thanhđiệu mà không ănkhớp trọnvẹn với các mẫuhình đãđược xáclập. Chẳnghạn, tỏi 蒜 suàn (HV toán, HN “tỏi”) biểulộ sự luânphiên /s‑ ~ t‑/ và /‑n ~ ‑i/, trongkhi chua 酸 suān (HV toan, HN “chua”) lại khôngtheo mẫuhình ấy. Tuyvậy, những trườnghợp nhưvậy vẫnđược xếpvào loại từ vaymượn hay ítra là đồngnguyên dựatrên độ tươngcận tổngthể.

Xét chữ 兒 ér, tươngứng với HV nhi, và chora các biếndạng HN nhỏ (chỉ “đứatrẻ”), HN nhí (“embé”), và nhínhảnh (với nhảnh là một âmtiết lấpláy để nhấnnhá ýnghĩa từtố đitrước nó (sosánh nhínhanhínhảnh, tươngtự hậutố “‑ish” trong tiếngAnh), tráingược với nhỏ 孺 rú (HV nhụ, sosánh nhonhỏ”). Từđó cóthể kếtluận rằng nguyênngữ nhi đi vào tiếngViệt qua tiếngHán Trungđại, và các dạng dẫnxuất kểtrên đềulà từ vay Hánngữ.

Khi sosánh với các phươngngữHán phươngnam khác, và tráingược với giảđịnh phổbiến, tiếngViệt—ngoàiviệc chiasẻ một phổ thanhđiệu rộng (tới chín thanh)—lại tươngứng gầnhơn với tiếng Quanthoại sovới Quảngđông, Mânnam, hay Ngô, đặcbiệt trong miền từvựng. Chỉ mộtsố rấtít từ Quảngđông bảnđịa có đốiứng trong tiếng gọilà thuầnViệt (theo quanniệm nhiềungười khác), chẳnghạn:

  • QĐ sik6 → HN xơi (“ăn”)
  • QĐ jam2 → HN uống (“uống”)
  • QĐ gai1 → HN gà (“gà”)

Ngượclại, những dạng QuảngĐông hiếmgặphơn lại khôngcó đốiứng trựctiếp trong tiếngViệt, vídụ:

  • QĐ fajng1kao1 (“ngủ”) ≠ QT 卧 wò  tươngứng HV ngoạ → HN ngủ
  • QĐ pin5tow2 (“ởđâu”) ≠ QT 哪裏 nǎlǐ  tươngứng HV nalí → HN nơinào
  • QĐ tzuo3 (“rồi”) ≠ QT 了 liǎo  tươngứng HV liễu → HN rồi


        Người nói tiếngQuảng cóthể truynguyên lịchsử của mình đến một phần đángkể của vươngquốc NamViệt cổ (204–111 TCN). Kinhđô Phiênngung 番禺 (nay thuộc Quận Phiênngung, TP Quảngchâu, TQ) được thiếtlập dưới quyền caitrị của vịvua sánglập Triệu Đà 趙佗 (Zhao Tuo) và được duytrì bởi các vươngtriều kếthừa. Thểchế phươngnam này đánhdấu lànsóng Hánhoá sơkỳ của vùngbiên này, nơi các truyềnthống BáchViệt bảnđịa giaothoa với vànhđai vănhóa và ngônngữ Hán đang tiếnbước. (2).

        III) Sự phânkỳ giữa tiếngQuảng và tiếngViệt sau thời NamViệt

        Sau khi NamViệt bị sápnhập vào Trunghoa (中國), quátrình Hánhoá tiếptục tăngtốc. Điềunày đã xúctiến sựphânkỳ giữa tiếngQuảng và tiếngViệt, khiến chúng trởthành hai thựcthể ngônngữ–vănhóa riêngbiệt. Mỗi ngônngữ phátriển theo một lộtrình lịchsử táchbiệt, và chỉ có Annam là cuốicùng giànhđược độclập khỏi quyền caitrị của Trunghoa vào năm 939 SCN.

        Thànhphần gen ditruyền và vănhóa của cộngđồng nói tiếngQuảng hiệnđại khácbiệt đángkể sovới tổtiên của họ thời tiền‑Hán và cưdân từng sinhsống tại vùngđất này cho đến thếkỷ thứ 10. Cókhảnăng mộtsố nhóm thânthuộc đã dicư xuống phươngnam vào lãnhthổ Annam, một hiệntượng lặplại qua nhiều thếkỷ trong lịchsử đanxen của khuvực. Tại Trunghoa, những lànsóng dicư nhưvậy thường xảyra để tránh đóikém, đànáp, hoặc biếnđộng chínhtrị. Tươngtự, cưdân Annam cổ cũng dichuyển xuống phươngnam để thoátkhỏi tầm kiểmsoát của đếquốc.

        Đến thờiđiểm những lànsóng dicư này xảyra, những nhóm địnhcư mới sẽ gặp các cộngđồng khôngquá khácbiệt sovới chính họ, đặcbiệt trong bốicảnh cùngchung hoặc kềcận một thểchế. Biêngiới giữa Trunghoa và Việtnam trong phầnlớn lịchsử khá thôngthoáng, tạođiềukiện cho những chuyểndịch nhưvậy, chođếkhi nó bị đónglại vào năm 1949 dưới thời Mao.

        Nếunhư Annam vẫn nằm dướiquyền thốngtrị của Trunghoa chođến hiệntại, lộtrình quốcgia của nó cóthể đã giốnghệt NamViệt (Quảngđông: NamJyut6), nay bị sápnhập vào Tỉnh Quảngđông. Trong lịchsử, Quảngđông từng sảnsinh hàngtriệu ngườidicư toảđi khắpthếgiới, baogồm cả Annam và các quốcgia ĐôngnamÁ khác. Ngượclại, nếu vùng Quảngđông rộnglớn từng giànhđược quốcthể như Annam, cóthể nó đã giữđược chủquyền ngônngữ. Ngônngữ của nó, giống tiếngAnnam, cóthể đã bảotồn những đặctính loại hình riêngbiệt, khiến việcphânloại trong họ Hán‑Tạng phảiđược xemxétlại. Điềunày cũng cóthể ápdụng cho tiếng Phúckiến (Hokkien) và Hảinam.

        Hậnduệ tiếngQuảng hiệnđại, nay đã Hánhoá hoàntoàn, chỉ cóthể tiếpcận disản tiền‑Hán của mình qua các ditích khảocổ như lăngmộ các vua NamViệt tại Quảngchâu ngàynay. Chữviết của NamViệt cóthể được phiênâm khi cần để phảnánh cáchphátâm lịchsử.

        SựHánhoá trànngập của vùng Quảngchâu đã địnhhình sâuđậm căntính ngônngữ của nó. TiếngQuảngđông tuylà một nhánh ngônngữ BáchViệt Hánhoá, nhưng nó đốinghịch rõrệt với tiếngViệt—một sựkhácbiệt bắtnguồn từ lộtrình lịchsử riêngbiệt của mỗi bên. TiếngQuảng bảnxứ tại nộiđịa Trunghoa từ năm 111 TCN đếnnay, trongkhi Việtnam thoátkhỏi quyềncaitrị của Trunghoa vào năm 939 SCN. Sựphânkỳ này là nềntảng của căntính dântộc Việt.

        Trong thờikỳ nhàMinh đôhộ nướcViệt 25 năm ở thếkỷ 15, ảnhhưởng Hánngữ đểlại những dấuvết khôngthể xoá-nhoà dù đã xảyra biếncố tànphá vănhoá đặcbiệt khi quân Minh thiêuhuỷ toànbộ thưtịch của Việtnam (Nguyễn Tài Cẩn, 1998). Qua nhiều thếkỷ, Việtnam vậtlộn với một chủquyền phứctạp, lúc thì làm chưhầu, lúc giữđược độclập, thích-ứng với quyềnlực biếnđộng của phươngbắc. Hơn một thiênniênkỷ saukhi chấmdứt 1004 năm đôhộ giặcTàu, sựcânbằng này vẫnlà trụcchính của lịchsử Việtnam.

        Mặcdù cùng cóchung tổtiên BáchViệt (Yue, Bod), ngườiViệt thường bộclộ nỗi hoàicổ về disản Việt (Yue), trongkhi nhiều ngườiQuảng lại khôngbiết hoặc không mấy quantâm đến nguồngốc Yue (Việt) của mình. Môhình Quảngđông là một bảihọc lịchsử: sự Hánhoá cưdân Việt ở NamViệt đã ảnhhưởng sâuđậm đến tiếntrình hìnhthành dântộc và ngônngữ Việtcổ. Tưliệu về ÂuViệt (甌越) của Quảngđông có những tươngđồng đáng kinhngạc với bộtộc LạcViệt (雒越) của Annam. Sựđôhộ của nhàHán lanxuống cả vùng châuthổ SôngHồng, vùng này trởthành vùngđất phía tâynam của NamViệt saulần bị nhàHán chinhphục năm 111 TCN.

        Chínhsách đếquốc Hán đểlại những dấnvết Hánngữ bềnvững trên các ngônngữ Việt đang hìnhthành, và qua nhiều thếkỷ đã tiếphoá thành tiếngQuảng và tiếngViệt. Mặcdù hai ngônngữ này có những tươngđồng đángkể, chúng khôngphải là “cùng họ” theo nghĩa ngônngữhọc. Điềunày thểhiện rõ ở sốlượng hạnchế các từnguyên Hán‑Việt mới được xácđịnh có chung cộirễ. Chẳnghạn, truyện Thầncung Bảokiếm kể về tổtiên chung của ngườiChoang (Tráng, hoặc Nùng) và ngườiViệt (LạcViệt)—mỗi tộc tựgọi mình bằng cùng một tộcdanh—cho thấy mốiliênhệ của họ với truyềnthống Quảngđông cổ. (3)

        Tính chất Hánngữ của các từnguyên Hán‑Việt và từvựng Hánngữ trong tiếngQuảng là khôngthể phủnhận. Điềunày được xácthực qua sự phụthuộc chung vào các dạng tiếngHán Trungcổ và những tươngđồng ngữâm, baogồm hệthống thanhđiệu (tám thanh trong tiếngViệt sovới chín thanh trong tiếngQuảng) và các âmcuối (‑m, ‑p, ‑t, ‑k).

        Trong số các từnguyên Hán‑Việt cónguồngốc từ Hán Trungcổ, mộttrongnhững trườnghợp gây tranhluận nhiều nhất liênquan đến cách đặttên của hệ thống Thậpnhịchi. Hệthống này hélộ những lộtrình tầngnền trong thuậtngữ Hán‑Việt, truyngược về thời Việtcổ, đi qua Háncổ trướckhi đivào tiếngViệt. Những dạng này vắngmặt rõrệt trong tiếngQuảng, cólẽ vì mứcđộ Hánhoá của nó sâu hơn. Các yếutố vănhóa như mườihai congiáp, vốnđược dùngchung trong vănhoá Hán và các tộc thiểusố phươngnam, gồmcả tiếngViệt và các ngữchi Môn‑Khmer, là vídụ điểnhình của sự bảotồn tầngnền này.

        Chẳnghạn, năm 2014—Năm Ngọ (馬年)—cũng được gọi là năm GiápNgọ (甲午年, Jiǎwǔ Nián). Ởđây, Ngọ 午, một từ vay Việtcổ mang ýnghĩa là “ngựa” (tráingược với từ bảnđịa ngựa), là một chứngtích của disản Việt. Mặcdù các têngọi như “năm GiápNgọ” nghe cóvẻ xalạ với ngườiTrungquốc hiệnđại, chúng vẫncòn được dùng đến đầu thếkỷ 20. Một vídụ điểnhình là cuộc Cáchmạng TânHợi (辛亥 革命) năm 1911, lậtđổ nhàThanh. Chữ 亥 (hài), chỉ “heo”, là một từvaymượn từ Việtcổ khác trong Hán‑Việt là hợi, còn trong Hán‑Nôm là heo. Vìvậy, năm 1911 được nhớ đến là Năm TânHợi hay “Năm ConHeo” (Boltz 1991).

        Một trườnghợp khác là mẹo, một biếndạng từ Hán‑Việt cổ của 卯 (QT máo), vềsau được tái dunhập thành Hán‑Việt mão. Trong truyềnthống Việt, 卯 là địachi thứtư, nhưng tráingược với cáchdùng của ngườiHán—nơi 卯 ứng với 兔 (tù, HV thố, HN thỏ)—ngườiViệt gán nó với mèo, một ýtưởng bìnhthường rấtlà lôgíc, vì mão (mèo) khôngthểnào tươngứng với thố (thỏ). Vìvậy, trongkhi ngườiHán gọi 兔年 (Tùnián, “Năm ConThỏ”), ngườiViệt gọi cùng năm ấy là 卯年 (QT Máonián), đọc HV Mãoniên, HN nămMão, hoặc nămMẹo, hay thôngtục nămMèo. Sựkhácbiệt này chothấy “Năm ConMèo” của ngườiViệt khôngphải là sựtáidiễn của “Năm ConThỏ” từ Hánngữ, màlà sự bảotồn liênhệ đến tiếngViệtcổ.

        Một trườnghợp songhành là 未 (QT wèi, HV vị) và tiếngViệt dê (/ze1/, “dê”). Kháiniệm phươngnam nguyênthuỷ của 未 là “dê”, vềsau bị thaythế bởi các từ phươngbắc chỉ “cừu” hay “condê” (VS cừu 羯 jié, HV kiết; 羭 yú, HV du), mặcdù 羊 (yáng, HV dương) vẫn cónghĩa “dê” trong nhiều phươngngữ phươngnam. Sựchuyểndịch nghĩa này phảnánh ảnhhưởng phươngbắc, nơi 羊 được hiểu là “cừu” hay “condê” (羔 gāo, VS cừu). Điều quantrọng là 未 cần được hiểu là “dê”, tươngứng với HV dương (羊 yáng) và VS dê (/ze1/). Cáchphátâm này phùhợp với các phươngngữ Hán phươngnam như Triềuchâu (/jẽw1/), Amoy (/jũ1/), và Hảinam (/jew1/), đều cónghĩa “dê”. Từghép 山羊 (shānyáng, HN “dênúi”) càng củngcố cách hiểu này.

        Cókhảnăng 未 bắtnguồn từ một dạng Việtcổ gần với /ze1/ hay /je1/, rồi đivào tiếngHán qua hệthống Thậpnhị Chi. Trong bốicảnh này, 未 cóthể là dạng phiênâm của một từ ngoạilai chỉ “dê”, thaythế cho 羊, vốn trong vănhóa phươngbắc thường gắn với “cừu”. Dạng Hán‑Việt cổ dê (/je1/) vìvậy bảotồn một cáchphátâm tầngnền khácbiệt so với Quanthoại /wèi/.

        Âm Hán Trungcổ của 未 biếnthiên đángkể—/mwe̯i/, /mĭwəi/, /miuəi/, /mʉi/, /mʷɨi/, /muj/—và vềsau phânnhánh thành HV vị (/vjej6/, HN phươngnam /zjej6/, “chưa”) và HV mùi (/mʷɨi2/, “dê”). Sựchuyểndổi ngữâm từ /v‑/ sang /j‑/ hay /z‑/ trong VS dê gợiý một lần vay phươngnam, cóthể qua một giaiđoạn trunggian /wj‑/. Trong kịchbản này, Quanthoại /wèi/ cóthể là một dạng vayngược từ Háncổ /mɯds/, như 《說文》 chép: 未, 味也.

        Chữ 未 vìvậy phânnhánh ngữnghĩa và ngữâm thành HV vị (“chưa”, “tươnglai”), như trong vợchưacưới (未婚妻 wèihūnqī, HV vịhônthê), và HV mùi (“dê”), như trong NămẤtMùi (乙未年 YǐWèiNián, “Năm Con Dê”). Cókhảnăng 未 được dunhập bởi các cộngđồng nói tiếngViệtcổ ở NamViệt hoặc Annam trước thời Háncổ. Mặcdù cả tiếng Háncổ lẫn tiếngViệt cổ đều khôngcó phụâm đầu /v‑/, các phươngngữ phươngnam cóthể đã bảotồn dạng gần với /jej/ hay /zjej/.

        Làm phứctạp thêm vấnđề truycứu từnguyên, tiếngViệt cóthể cũng là một dạng songđẳng của 羊 (yáng), thểhiện trong HN dê và HV dương (/jɨəŋ1/), và songhành với Triềuchâu yẽo (/jẽw1/), đều cónghĩa “dê”. Những dạng này củngcố giảthuyết rằng tiếngViệt bảotồn một tầng từvựng nền khácbiệt với các pháttriển Hán phươngbắc.**

        Trong hệ thống Thậpnhị Chi, các năm như 1955, 2015, và 2075—chínhthức gọi trong tiếngViệt là NămẤtMùi (乙未年 YǐWèinián)—nay trong tiếngHán đạilục thường đượcgọi là 羊年 (Yángnián, “Năm ConDê”, VS nămDê). Đángchúý, giớitrẻ TrungQuốc thường khôngnhậnra ýnghĩa lịchpháp hoàngđạo của 乙未年, trongkhi thanhniên Việt vẫn quenthuộc với cả nămẤtMùi lẫn nămDê. Điềunày thểhiện trong các cách nói như: 我 的 生 於 乙未年 (Wǒde shēng yú YǐWèinián; Tôi sanh nămẤtMùi) và 我 的 生肖 屬羊 (Wǒde shēngxiào shǔyáng; Tôi cầmtinh conDê), hoặc đơngiản 我 屬 羊 (Wǒ shǔ Yáng; Tôi tuổi Dê).**

        Sự liêntục vănhóa này củngcố giảthuyết rằng 未 cónguồngốc là một từ vay Việt cổ, cóthể phụcnguyên gần với /zẽ/ hay /jẽ/, khácbiệt với 羊. Sự tươngtác ngữâm–ngữnghĩa giữa 未 và 羊 còn được thấyrõ trong chữ 美 (měi, HV mỹ /mej4/, nghĩalà “đẹp”), nơi 羊 (“dê”) đặt trên 火 (“lửa”) tạonên trườngnghĩa là “hươngvị đẹp”. Mốiliênhệ từnguyên giữa 美 và 未, đặcbiệt qua HV mùi (/mʷɨi2/, “dê”), đã củngcố disản chung của chúng và gợiý rằng tiếngViệt bảotồn những liênhệ từvựng–biểutượng tầngnền khácbiệt với các táidiễn phươngbắc vềsau. (4) 

        Hai trườnghợp trong 12 Chi, 卯 và 未 nêutrên, có những hàmý rộnghơn đối với côngtrình sosánh Hán‑Tạng. Phântích sâuhơn cóthể khảosát các đồngnguyên tiếngViệt như HV ngọ (午 wǔ, HN “ngựa”) và HV sửu (HN “trâu”, 丑 chǒu < HTC ʈʰuw < HC *n̥ʰuʔ). Các tươngứng bổsung baogồm:


            TiếngViệt              Nghĩa                          Tạngcổ                      Ghichú                 
           
            cẳng          chân         rkań         
        Tươngứng ngữâm
            mắt           mắt          mig           Ổnđịnh ngữnghĩa
            sông          sông         kluń          Cf. Việt‑Mường */krong/
            bò            bò           ba            Liêntục từvựng

        Những tươngứng này gợiý rằng các từ trên cóthể đã tồntại trong Việt‑Mường nguyênthuỷ hoặc pháttriển độclập trướckhi có ảnhhưởng Hánvăn vềsau. Chúng mởra những chiềuhướng nghiêncứu mới về mốiliênhệ của tiếngViệt trong họ Hán‑Tạng, sẽ được minhhoạ ở các phầnsau qua bảngtừ sosánh của Shafer (1966–1974).(5)


        Bảng 5 – Trườnghợp “Năm ConMèo”


        Theo Nguyễn Cung Thông, mốiliênhệ giữa Mão, Mẹo và mèo khá trựctiếp: các âm này đều thuộc nhóm thanh “thấp” và cùng mang nguyênâm e (như trong Mẹo, mèo), vốnlà dạng cổhơn sovới nguyênâm a (như trong Mão). Các vídụ trong đốiứng VS/SV baogồm: hè/hạ, xe/xa, keo/giao, vẽ/hoạ, mè/ma, chè/trà, beo/báo, v.v. Sựnhầmlẫn giữa mèo và thỏ trong vănhóa Hán thểhiện rõ trong trườnghợp thốtôn (兔猻), một loài mèorừng đang dần biếnmất. Loài này phânbố tại TrungÁ, Siberia, Kashmir, Nepal, Thanhhải, NộiMông, Hàbắc, Tứxuyên, Tâytạng và Tâncương; còn được gọi là xálịtôn (猞猁孫) hay steppe cat trong tiếngAnh, và thường sinhsống ở vùng hoangmạc.

        Khi ngườiHán mởrộng xuống phươngnam và về phíatây, hiệntượng “nhầmlẫn mèo với thỏ” (tươngtự thànhngữ Việt “nhầm gà ra cuốc”) trởnên rõrệt, thểhiện qua tên gọi thốtôn. Sựnhầmlẫn này phầnnào giảithích vìsao Địachi thứtư (Mão, Mẹo) trong ngữcảnh nguyênthuỷ lại gắnvới mèo chứ không phải thỏ. Thốtôn (兔猻) còn đượcgọi là dươngxálị (洋猞猁), ôluân (烏倫), mãnão (瑪瑙), hay mãnãotặc (瑪瑙勒). Từ xálị (猞猁) chỉ một loài mèorừng (lynx). Từ Hán‑Việt miêu (貓) nghĩa là “mèo”, nhưng trong Háncổ, miêu lại chỉ một dạng “hổ ít lông”, khôngphải mèonhà. Điềunày củngcố giảthuyết rằng Mão (卯) vốnlà một dạng phiênâm của một từ ngoạilai (nhiều khảnăng là một từ Việtcổ) được dunhập vào tiếngHán.

        Địnhnghĩa miêu trong Nhĩnhã (爾雅) chép: “Hổ ít lông gọi là 虦貓 (sạnmiêu)”. Theo Ngọcthiên, sạn/sàn (虦) cũng chỉ “mèo”. Chữ 虦 (biếnthể hiếm viết là 虥) chỉ một loài mèorừng có vằn. Trongkhi đó, thố/thỏ (鵵) trong nghĩa cổ lại chỉ một loài chim, còn mãn (梚, một chữ hiếm) chỉ một loàicây trong thưtịch Háncổ. Trong phươngngữ Hẹ, thỏ đọc là t’u2 (gần với thổ), khác với cáchđọc của mãn (mèo) và thố/thỏ.

        Để hiểu vìsao ngườiViệt gán mèo cho Địachi Mão (卯), một giảithích phổbiến trong nguồn Hán là âm Mão khi dunhập vào tiếngViệt nghe giống mèo hoặc miêu (HV “mèo”). Tuyvậy, nếu nóirằng vì âm mèo giống Mão nên ngườiViệt chọn mèo làm biểutrưng, thì khó giảithích vìsao nga (ngỗngtrời, chim biển)—gắnbó mậtthiết với đờisống Việt (đánhcá, sống venbiển), và có dạng cổ ngwa gần với Ngọ (午)—lại không được chọn làm biểutrưng cho Địachi Ngọ. Tươngtự, âmcổ của Mùi (未) gần với muỗi, nhưng ngườiViệt lại chọn dê chứ không chọn muỗi. Còn rấtnhiều cặp tươngứng ngữâm tươngtự nhưvậy.

        Mặcdù chữ Nôm còn khá “trẻ” để phântích các liênhệ ngữâm của 12 con giáp, mộtsố điểm đángchúý baogồm việc dùng mèo (và meo) với chữ Hán‑Việt miêu (貓), như trong Bạchvân Thitập của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585): “Lẻo lẻo doành xanh con mắt mèo”. Trongkhi đó, méo trong Nôm lại dùng chữ Mão (卯), đôikhi kèm dấu phụ, như trong Hồngđức Quốcâm Thitập (Lê Thánh Tông, 1442–1497): “Tròn tròn méo méo in đòi thuở”. Nhưvậy, sựphânbiệt giữa Mãomèo đã tồntại ítnhất từ thời Lê, và khảnăng nhầmlẫn giữa Mão (âm Hán Trungcổ được táidunhập vào Việt thời Đường‑Tống) và mèo (âm Việtcổ) là rất thấp.

        Quytắc pháttriển tựnhiên của hệ chữviết loàingười là từ cụthể–đơngiản sang trừutượng–phứctạp. Chẳnghạn, tên độngvật thường được mởrộng sang nghĩabóng: “mặtchuột” (so với “mặtrồng”), “thântrâu”, “ăn như mèo ngửi”, “tính như rắn”. Vìvậy, giảithuyết mèo → Mão hợpquytắc luật hơn nhiều sovới Mão → mèo. Hệ thống đặt tên độngvật (đơngiản) quenthuộc với nôngdân được tíchhợp vào vănhóa Hán và chuyểnhóa thành hệ thống ghi thời–bói toán (trừutượng, phứctạp). Hệ thống 12 con giáp nởrộ khi vănhóa Hán đạt đỉnh (Tần, Hán, Đường, Tống) và lantoả sang các vùng lâncận, baogồm Việtnam. Hiệntượng “vayngược” này thường bị bỏqua trong trườnghợp Việt.

        Thựctế, ngườiViệt không cần phântích quá mức mốiliênhệ tựnhiên giữa Mão, Mẹo và mèo, cũng như họ khônghề thắcmắc về mốiliênhệ giữa Tý (chuột), Ngọ (ngựa), Hợi (heo), hay Sửu (trâu). Khác với vănhóa Hán—nơi dùng các tổhợp như Mão Thố (卯兔, “Thỏ của Mão”), Tý Thử (子鼠, “Chuột của Tý”), hay Sửu Ngưu (丑牛, “Trâu của Sửu”) để nhấnmạnh mốiliênhệ—vănhóa Việt mặcđịnh nhậnbiết các cặp Mão–mèo, Tý–chuột, Sửu–trâu như những liênhệ tựnhiên.



        Source: Nguyễn Cung Thông: "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp - Mão/Mẹo/mèo"


        Giảthiết đãđược trìnhbày về mặt từnguyên ởtrên đãđược hiệuđính lại và củngcố thêm với các từnguyên tiếngViệt cho thấy quanhệ đồngnguyên trựctiếp với cộirễ Hán‑Tạng. Những từnguyên này cóvẻ xuấtphát từ các ngônngữ Hán‑Tạng khác chứ không điqua kênh truyềnthống Hánvăn. Tầnsuất và tính nhấtquán của các tươngứng này quá lớn để cóthể xemlà ngẫunhiên. Vìvậy, chúngtôi đềxuất một phânloại ngônngữ mới: một phạmtrù riêngbiệt gọilà Hán‑Nôm (Sinitic‑Vietnamese). Phânloại này cóthể xứngđáng được đặt nganghàng với chính nhánh Hánngữ, xétđến tiềnđề lịchsử rằng tầngnền Việt (Yue) cótrước Hánngữ nguyênthuỷ, như đã thảoluận ở các phầntrước. Hơnnữa, các từ cơbản tiếngViệt được tríchdẫn trong Vietnamese Parallels With the Sino-Tibetan Languages chothấy những quanhệ đồngnguyên rõrệt với các từnguyên Hán‑Tạng, càng làm tăng sứcthuyếtphục cho giảthuyết này.'

        IV) Việc phântích và những khókhăn trongviệc phânloại

        Vềmặt phântích, bảng khảosát từnguyên được trìnhbày ởđây kếthợp gócnhìn lịchsử đã phácthảo ở trên, xemxét tiếntrình pháttriển ngônngữ theo cả trục đồngđại lẫn trục lịchsử. Phươngpháp này giốngnhư việc chụplại từng “khunghình” trong một cuộnphim lịchsử—chophép ta tua nhanh, tua lùi, phóngto hay thunhỏ để đặt sựtiếnhóa từvựng vào đúng ngữcảnh. Tuyvậy, vịtrí niênđại của mộtsố từnguyên vẫncòn mơhồ.

        Chẳnghạn, “béo” (肥 féi , HV phì) còn tươngứng với 油 yóu, như trong ngữcảnh 油膩 yóunì (HN béongậy), thểhiện mẫuhình /y‑ ~ b‑/ giữa Quanthoại và tiếngViệt; hay 柚 (yóu, HS bưởi), và 游 (yóu, HN bơi)—tấtcả đều phùhợp với biếnđổi ngữâm Hán‑Việt. Mặcdù những hoánđổi này cóthể chấpnhận được, việc xácđịnh giaiđoạn tách-âm muộnnhất phụthuộc vào các phươngpháp sosánh sẽđược giớithiệu ở những chương sau.

        Xétrằng tấtcả các ngônngữ “bàcon” của tiếngViệt tại “Hoanam Trungquốc”, baogồm các phươngngữ Hán khuvực, đều được xếpvào họ Hán‑Tạng, thì vìsao tiếngViệt lại được phânloại vào họ NamÁ, cụthể là nhánh Môn‑Khmer? Việc phânloại này làmsao hoàigiải với các chứngcứ từnguyên Hán‑Tạng và Việtcổ (Yue) đã trìnhbày ởđây?

        Tháchthức không nằm ở dữliệu mà nằm ở tưduy của những người gắnchặt với các khungphânloại kếthừa. Việc đánhgiálại phânloại cách tiếngViệt đòihỏi phải đốidiện với những giảđịnh đã ănsâu và thừanhận tính phứctạp của phảhệ ngônngữ Việt.

        Kếtluận

        Những chứngcứ được tổnghợp trong nghiêncứu này chothấy tiếngViệt không đơnthuần là một ngônngữ NamÁ, cũng khôngphải một ngônngữ Hán‑Tạng theo nghĩa trựctuyến, màlà nó mangtính “kếthừa lưỡngtính”. Đồngthời, hàng thếkỷ Hánhoá đã chồnglớp lên từvựng Hán Trungcổ, hệthống thanhđiệu và các đặctính ngữâm lên tiếngViệt, hìnhthành nên các tầng Hán‑Việt và Hán‑Việt học thấmđẫm trong lờinói hằngngày.

        Phântích sosánh chothấy tiếngViệt táchbiệt khỏi tiếngQuảng và các phươngngữ phươngnam khác không phải vì thiếu ảnhhưởng Hánngữ, mà vì nó theodõi một lộtrình lịchsử riêng sau khi giành độclập năm 939 SCN. TiếngQuảng ở lại trong Trunghoa và ngàycàng Hánhoá sâu hơn, trongkhi tiếngViệt cânbằng các yếu tố Việt cổ (Yue) với những lớp vaymượn kếtiếp từ Hán, Nhật, và vềsau là Âuchâu. Chính độnglực này đã tạo nên một ngônngữ vừa độcđáo Việtnam, vừa gắnkết mậtthiết với các lânbang.

        Khókhăn trong phânloại không nằmở dữliệu mà ở các khungphânloại đã ănsâu. TiếngViệt khôngthể bị giảnlược vào một hệ ngônngữ duynhất. Nó thíchhợp nhất khi đượchiểunhư một phạmtrù HánViệthọc độclập: một hệthống laighép nẩysinhra từ tiếpxúc, thích-ứng, táitạo, và sángtạo. Việc thừanhận disản lưỡngkế này táiđịnhvị tiếngViệt như một ngônngữ hộitụ, nơi tiếngnói tầngnền Việtcổ, triềuđình Hán Trungcổ, vănbản thuộcđịa và các cảicách hiệnđại cùng cộnghưởng.

        Theo nghĩa đó, tiếngViệt khôngchỉlà một trườnghợp từnguyênhọc. Nó là một môhình mà cách tiếnhóa ngônngữ đã kinhqua lịchsử chồnglớp, đồngthuận về căntính mà các luậnthuyết rasao qua nhiều thếkỷ tiếpxúc, và cách kýức vănhóa bềnbỉ tồntại trong từng âmtiết nhỏnhất. Câuchuyện của tiếngViệt vìvậy là câuchuyện của sự sinhtồn và tổnghợp: một ngônngữ mang dấuấn Việtcổ, sứcnặng của đếquốc Hán, và sự sángtạo của chính cộngđồng đã nuôidưỡng nó.


        Sách Thamkhảo:


        Baxter, William H., and Laurent Sagart. 2014. Old Chinese: A New Reconstruction. Oxford: Oxford University Press.

        Boltz, William. 1991. The Origin and Early Development of the Chinese Writing System. New Haven: American Oriental Society.

        Ěryǎ 爾雅. n.d. Ěryǎ. Early Chinese lexicon. Various editions.

        Ferlus, Michel. 2013. “Proto‑Vietic and Austroasiatic Reconstructions.” Various publications.

        Guǎngyùn 廣韻. n.d. Guǎngyùn. Song‑dynasty rime dictionary.

        Herrmann, Albert. 1935. History and Commercial Atlas of China. Berlin: Dietrich Reimer.

        Huáinánzǐ 淮南子. n.d. Huáinánzǐ. Western Han philosophical text.

        Jíyùn 集韻; Yùnhuì 韻會; Zhèngyùn 正韻. n.d. Jíyùn; Yùnhuì; Zhèngyùn. Classical rhyme books.

        Kāngxī Zìdiǎn 康熙字典. 1716. Kāngxī Zìdiǎn. Commissioned by the Kangxi Emperor, Qing dynasty.

        Mei, Tsu‑Lin. 1980. “On Austroasiatic Influence in Chinese.” Various publications.

        “Nanyue Kingdom (南越).” 2025. Wikipedia. Accessed 2025.

        Nguyễn Bỉnh Khiêm. 16th c. Bạch Vân Thi Tập. Various editions.

        Nguyễn Cung Thông. n.d. Studies on the Vietnamese zodiac and Yue substratum. Various publications.

        Nguyễn Tài Cẩn. 1998. Về việc nhà Minh phá hủy thư tịch Việt Nam. Hà Nội: NXB Giáo dục.

        Norman, Jerry. 1985. Studies on Chinese dialects and Austroasiatic connections. Various publications.

        Proto‑Austroasiatic, Proto‑Mon‑Khmer, Proto‑Vietic Reconstructions. n.d. Various sources.

        Schuessler, Axel. 2007. ABC Etymological Dictionary of Old Chinese. Honolulu: University of Hawai‘i Press.

        Shafer, Robert. 1966–1974. Introduction to Sino‑Tibetan. Wiesbaden: Harrassowitz.

        Shānhǎijīng 山海經. n.d. Shānhǎijīng (Classic of Mountains and Seas). Various editions.

        Shuōwén Jiězì 說文解字. n.d. Shuōwén Jiězì. By Xu Shen (許慎), Eastern Han dynasty.

        STEDT (Sino‑Tibetan Etymological Dictionary and Thesaurus). n.d. University of California, Berkeley.

        Starostin, Sergei. 1953–2005. Sino‑Tibetan and Old Chinese reconstructions. Moscow: STARLING database.

        Zhuang, Lao, Thai, Bouyei, Saek Comparative Forms. n.d. Various linguistic surveys.

         

        CHÚTHÍCH



        (1)^ Thuậtngữ chỉ “heo” trong tiếngViệt và nguồngốc BáchViệt (Yue): Đốivới “heo”, ngườiViệt miềnBắc dùng lợn (豚 tún, HV độn), trongkhi ở miềnNam gọi là heo (亥 hài, HV hợi). Dạng sau là một từ Việtcổ đíchthực, mang tính bảnđịa Yue, xuấthiện trong cả hệthống 12 Congiáp của Việt lẫn Hán, nơi 亥年 Hàinián (HN 'NămHợi' hoặc 'NămHeo') tươngứng với “Năm ConHeo”. Trongkhi đó, lợn 豚 tún (HV độn), được ghi trong Khanghi Tựđiển, thựcchất là một dạng songđẳng của 豘 tún, vốn mang cùng nghĩalà “heo”.

        Điểm thenchốt cần nhấnmạnh là các yếutố ngônngữ Yue cótrước Hánngữ: 亥 hài nhiều khảnăng là dạng phiênâm của một từ Việtcổ chỉ heo, cả về mặt từnguyên lẫn vănhóa. (Xem APPENDIX D, E, F, G)

        (2)^ NamViệt (NanYue) là một vươngquốc cổ, baogồm một phần các vùng QuảngĐông, Quảngtây, và Phúckiến của Trunghoa, cùng với miềnbắc Việtnam ngàynay. Hiệntại, dukhách vẫn cóthể thamquan những tàntích nguynga của các lăngmộ từng được các Vua NamViệt xâydựng, nằm tại Thànhphố Quảngchâu, tỉnh QuảngĐông, Trungquốc. (Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Nanyue)

        (3)Truyềnthuyết chung giữa vănhóa Choang (Nùng) và Việt:  Truyện dângian Thầncung Bảokiếm của ngườiChoang và truyềnthuyết Việt về Trọng Thuỷ – Mỵ Châu kể những câuchuyện tươngtự một cách đángkinhngạc, đều môtả quátrình chuyểntiếp lịchsử từ ÂuLạc (歐雒) sang Vươngquốc NamViệt. (Xem Truyệncổ Dòng BáchViệt and https://vi.wikipedia.org/wiki/Mỵ_Châu.)

        (4)^ Dê và các liênhệ ngônngữ của nó:  ChữHán 未 wèi cóthể được phiênâm thành cả Hán‑Việt vị (“sắptới”) lẫn Hán‑Việt mùi, như trong Năm ẤtMùi 乙未年 Yǐwèinián (“Năm ConDê”). Trong HánViệthọc, dê tươngứng với 羊 yáng (HV dương, HN dê), phùhợp với âm Triềuchâu /jẽ/, tấtcả đều mang nghĩalà “dê”. Têngọi hoàngđạo 羊年 Yángnián (“Năm ConDê”) tươngứng với HN NămDê.

        Một điểm cần triểnkhai thêm là: 未 wèi có nguồngốc là một từvaymượn từ ngữhệ BáchViệtcổ (Yue), trongkhi 羊 yáng là một chữ tượnghình môphỏng đầu dê hoặc cừu. Vềmặt ngônngữ, 未 wèi và 羊 yáng cóthể xemnhư một cặp songđẳng, liênhệ vớinhau cả về ngữnghĩa lẫn ngữâm. Mốiliênhệ này thểhiện rõ trong chữ 美 měi (SV mỹ, “đẹp”), nơi 羊 yáng đặt trên 火 huǒ (“lửa”) tạo nên nghĩabóng “hươngvị đẹp”, “mỹvị”. Hơnnữa, 美 měi và 未 wèi (sosánh mùi) còncó những liênhệ ngữâm–ngữnghĩa sâu hơn.

        Có khảnăng rằng một dạngcổ của “dê” đã đi vào tiếngHán dưới hai hìnhthức khácnhau để dùng trong hệthống 12 chi, cóthể mang âm gần với 未 (wèi) hàng thếkỷ trướckhi được táidunhập trởlại vào cộngđồng Việtcổ thuộc Vươngquốc NamViệt hoặc Annam.

        (5) Thídụ kinhđiển của từnguyên Hán-Nôm nhưlà 江 jiāng (HV giang, HN “sông”), một từ vay cổ từ dạng Yue /krong/; hoặclà 目 mù và HV mục (HN “mắt”). Sựkhẳngđịnh tươngtự với danhxưng trong tiếngViệt của những congiáp khác như năm 'Mão' 卯 măo (mão, tứclà 'mèo' = 貓 māo (HánViệt miêu), 'Dê' 羊 Yáng (HV 'Dương', Triềuchâu /yẽo/, chứ khôngphải là 'cừu' (xem 'Mùi' 未 wèi (vị = 'dê'). Từ 'sửu' từ nầy tiếngHán vaymượn từ phươngngữ phươngNam (BáchViệt) để chỉ âm 'trâu', nếuthế thì nguồngốc 12 congiáp có nguồngốc phươngnam (ngoạitrừ conthỏ). Nhũng thídụ kểtrên cho ta thấy chúng cóthể cùng bắtnguồn từ một cộirễ chung, nhiều khảnăng truyngược về một lớptầng ngữhệ tiền‑Thái trong tiềnsử xaxưa.

        Khuynhhướng ngườiViệt dùng hệthống hoàngđạo địachi rất phổbiến và thôngdụng vì nó nằmtrong tâmthức tậpthể của dântộc. Dođó khôngcógì ngạcnhiên khi thấy 
        ngườiTrungquốc thườngphải dùng từghép để hiểu, nghĩalà chữ sau dùngđể giảithích chữ trước và tạothành những từghép mới. 

        Thídụ, khi ngườiViệt nói 'sửu' là biếtngay đâylà 'contrâu' (
        '丑 (丒) chǒu' tuy trong tiếngHánViệt đọclà 'Sửu' nhưng theo hệthống ngữâm lịchsử 丑 (丒) chǒu = 'trâu'), 'nămSửu' tươngứng là 'nămTrâu'. 

        Tómlại, địachi 'tý, sửu, dần...' trong tiếngHán không gợi gì để nhớ tên cầmthú, ngườiTrungquốc cầnphải nói thành từng cặp từ cho dễhiểu. Những vídụ từ hoàngđạo 12 congíáp minhhoạ rõ ýtưởng trên (cáchgọi mỗi congíáp trong tiếng Quanthoại theo điệpthức [ danhtự + bổtự ] (sovới cách diễngiải Hán-Nôm và tiếngAnh để minhhoạ ngữâm-ýnghĩa tươngđồng):

        • 子鼠 Zǐshǔ → Týchuột (" rat")
        • 丑牛 Chǒuníu → Sửutrâu ("Sửu buffalo")
        • 寅虎 Yínhǔ → Dầncọp ("Dầtiger")
        • 卯貓 Mǎomāo → Mãomẹo ("Mão cat") [ khôngainói 卯兔 Mǎotù → Mão 'thỏ("Mão rabbit") ]
        • 辰龍 Chénlóng → Thìnrồng ("Thìn dragon")
        • 巳蛇 Sìshé → Tỵrắn ("Tỵ snake")
        • 午馬 Wǔmǎ → Ngọngựa ("Ngọ horse")
        • 未羊 Wèiyáng → Mùidê ("Mùi goat")
        • 申猴 Shēnhóu → Thânkhỉ ("Thân monkey")
        • 酉雞 Yǒujī → Dậugà ("Dậu chicken")
        • 戌狗 Xūgǒu → Tuấtchó ("Tuất dog")
        • 亥猪 Hàizhū → Hợitrư ("Hợi pig")


        Những tươngứng này làmnổibật các thuậtngữ hoàngđạo của 12 ConGíáp trong tiếngViệt vừa bảotồn các liênhệ tầngnền BáchViệtcổ (Yue), đồngthời 
        vừa tiếpnhận các dạng tiếng Hán Trungcổ. Sựkhácbiệt giữa Mãomẹo (“Năm ConMèo”) và Mãothố 卯兔 (“Năm ConThỏ”) đặcbiệt có ýnghĩa, nhấnmạnh việc Việtnam giữlại các biểutượng vănhoá Yue cổxưa hơn.