Monday, January 19, 2026

Địnhvị Lại Bảnsắc TiếngViệt qua Khảocổ và Ngữâm

Một Lộtrình Độclập trong Từnguyên Hán‑Nôm


by dchph in collaboration with Copilot 




Trong nhiều thậpniên, những tranhluận về nguồngốc tiếngViệt vẫn xoayquanh các vấnđề chưa từng được giảiquyết dứtđiểm. Môhình NamÁ Môn-Khmer vốn giữ vịtrí thốngtrị từlâu, tuyđược chấpnhận rộngrãi, nhưng lại gặp khókhăn khi giảithích phầnlớn từvựng tiếngViệt cũngnhư những môhình vănhoá vangvọng vượt ra ngoài ĐôngNamÁ. Sau nhiềunăm nghiêncứu độclập, tácgiả nhậnra rằng việc lặplại những tranhluận thừakế ấy khôngthể đưa lĩnhvực này tiếnxa hơn. Điều cầnthiết là một cáchnhìn mới—một cáchnhìn không khởiđầu bằng giảđịnh rằng tiếngViệt nhấtđịnh phải khớp với khuônmẫu NamÁ.

Từ tiếntrình khảoxétlại kéodài ấy, hai phươngpháp tiếpcận đã  thànhhình. Phươngpháp thứnhất sosánh cóhệthống từvựng tiếngViệt với các ngữnguyên Hán, làm hiệnrõ những từđồngnguyên và những tươngứng mà các họcgiả trướcđây đã bỏqua. Phươngpháp thứhai tổchức từvựng tiếngViệt theo dạng đaâmtiết quanh các hạtnhân ngữâm, khiến những quanhệ cấutrúc tiềmẩn hiệndiện, những quanhệ mà các phươngpháp sosánh truyềnthống vốn khôngđược thiếtkế để pháthiện. Cùng nhau, hai hướng tiếpcận này mởra một lộtrình mới để tìmhiểu tiếngViệt không như một ngônngữ NamÁ côlập, màlà một ngônngữ truyềnthống hìnhthành dưới ảnhhưởng cả hai thứtiếng Hán và HánTạng rộnglớn hơn.

Độnglực của côngtrình này khôngchỉ thuần lýthuyết mà còn mang yếutố tâmlinh, ôngtổ BáchViệt. Nó phảnánh một nhậnthức sâusắc hơn rằng lịchsử ngônngữ Việtnam không thể táchrời khỏi những đanxen vănhoá và lịchsử với miền Nam Trungquốc nơi các tộc Việt đã sinhsống và tồntại. Dù Việtnam đãphải trảiqua cuộc đấutranh lâudài cho độclập chínhtrị, tiếntrình tiếnhoá ngônngữ của nó vẫn luôn gắnbó với ảnhhưởng Hán, tạonên một bảnsắc ngônngữ đặcthù mà cả môhình NamÁ lẫn môhình thuầnHán đều khôngthể môtả trọnvẹn. Vìvậy, việc táiđịnhvị bảnsắc ngônngữ tiếngViệt đòihỏi những côngcụ có khảnăng giảiquyết tính phứctạp này, những côngcụ có thể đồngthời nhậndiện bằngchứng khảocổ và những tầng ngữâm–ngữnghĩa sâusắc còn được bảo tồn trong ngônngữ.

Côngtrình này được trìnhbày như một lờimờigọi xétlại những giảđịnh lâuđời, nhìnlại những bằngchứng bị bỏquên, và tiếpcận lịchsử ngônngữ Việtnam bằng một tầmnhìn rộngmở và tíchhợp hơn.

I) Tiếpcận thứnhất: Nhóm ngữâm hạtnhân

Trướchết, đólà một sựtiếpcận đaphương — dựatrên sửliệu Trunghoa, vậnthư cổđại và kinhđiển — giữ vịtrí khảosát nềntảng, vì nhiều từnguyên Hán‑Nôm (HN) tựnhiên giaonhau với các khungtầng ngữâm theo nhiều cách khácnhau.

Bằngcách sắpxếp từvựng tiếngViệt theo dạng đaâmtiết quanh hạtnhân và sosánh chúng với các môhình ngữâm Hán, một giaitầng tươngứng sâuhơn trởnên hiểnhiện. Sựsắpxếp dựatrên hạtnhân này sẽ làm lộra những đồngnguyên mà các phươngpháp sosánh truyềnthống liêntục bỏqua, phátlộ những kếtnối bị chekhuất dưới các dạng bềmặt mờphai. Khung lýthuyết này vìthế cungcấp một phươngtiện cóhệthống để phụcnguyên những tươngđồng bị lãngquên bằngcách trìnhbày những bằngchứng thuyếtphục choviệc địnhvị tiếngViệt trong khônggian Hán‑Tạng rộnglớn.

Một vídụ điểnhình là kháiniệm thờ, từngữ nầy cộnghưởng với nhiều từnguyên Hán: 侍 (cí, HV thị), 祠 (cí, HV từ), 祀奉 (sìfèng, HV tịphụng, HN thờphượng), 奉事 (fèngshì, HV phụngsự)... Thànhngữ 忠臣不事二君, dịchsang tiếngViệt là tôi trung không thờ hai chúa, cho thấy trườngnghĩa của thờ bắtcầu từ sự sùngkính tâmlinh đến lậptrường chínhtrị xưa và nay. Phiênbản Hán‑Việt Trung thần bất sự nhị quân vẫncòn dễhiểu đối với nhiều ngườiViệtnam có họcthức, chothấy độ cộnghưởng vănhóa sâusắc của kháiniệm này. đángchúý, thờ đồngthời baoquát hai trườngnghĩa: hànhvi thờphượng và biểuđạt ýthức trungthành.

Phầntiếptheo là khảosát từnguyên khônggian ngônngữ và vănhóa BáchViệtcổ (Yue). Tácgiả cốý loạibỏ các giátrị NamÁ Môn‑Khmer vốn không phùhợp với hệthống tínngưỡng tổtiên thờcúng ôngbà của ngườiViệt. Disản tâmlinh này là phần hồn của tiếngViệt, thídụ nhưlà ngườita nói thờcúng ôngbà hoặc ĐứcPhật, chứkhông ai nói thờcúng Chúa Giêsu, songhành với quátrình tiếntriển lịchsử của nó. Cấutrúc ngônngữ NamÁ Môn-Khmer không mang hai chiềukích ngữnghĩa thiếtyếu này.

Nó vềmặt ngữâm hạtnhân, hãy xemxét quỹđạo tiếntriển của 飯 (HV phạn, HN ‘bữa’), ‘bữa’ pháttriển thành ‘ban’ và ‘buổi’ với ýnghĩa ‘thờiđiểm trong ngày’ (sosánh Hảinam /buj²/, Phúckiến /bəng²/). Tươngtự, cóthể khảosát từtố hìnhvị /ban‑/ như trong 白日 (báirì) như trong banngày như một nhântố ngônngữ độclập cùng tồntại với các từnguyên khác, nơi cả âm lẫn nghĩa chuyểndịch đểchỉ kháiniệm ‘banngày’. Khi phântích những chuyểndịch này ta sẽ không bị ràngbuộc bởi hìnhthái chữHán, ta vượtlêntrên và sẽcó một gócnhìn mới cho lýthuyết từnguyên Hán‑Nôm được trìnhbày ởđây.

Tượngtự với quátrình tiếntriển ấy, các từ như 食 shí (HV thực, HN xơi) và 稻 dào (HV đạo, HN gạo) phảnánh nhântố vănhóa cănbản của ngườiViệt. Điều này thểhiện trong tụcngữ Có thực mới vực được Đạo, nhấnmạnh sựgắnkết giữa cáiăn và đạolý trong tiếngViệt.

Đầu những năm 2000, khi tácgiả lầnđầu côngbố những pháthiện từnguyên Hán-Nôm sơkhởi này trên mạng internet, tácgiả đã đốimặt với sự thờơ của giới họcthuật và phảnđối của ngườiđọc, kểcả những phảnứng xemthường từ mộtsố nhàngônngữhọc từ các đạihọc ở Hoakỳ. Tuyvậy, tácgiả vẫn tinrằng những người mới bướcvào lĩnhvực, nếu tiếpcận với tâmthế rộngmở, sẽ nhậnra yếutính mới và giátrị của những pháthiện này, vì chúng manglại một gócnhìn độtphá.

Trongsuốt hànhtrình theođuổi tiếpcận ngữâm hạtnhân đaâmtiết mớimẻ này, tácgiả luôn biệnhộ cho quanđiểm nguồngốcHán của ông mỗikhi chủđề được nêura. Dùcó người chorằng ông lặplại quánhiều vídụ kinhđiển, nhưng ông vẫngiữ vững lậptrường cho lýthuyết của mình là nó mang một giátrị riêng, dựatrên các kháiniệm sẵncó nhưng được tinhluyện thành một khungphântích rõràng và toàndiện hơn.

Để hiểu rànhmạch hơn quanđiểm này, cần xétđến chiềukích tâmlinh làm nềntảng cho niềmtin rộngkhắp, và đặtđể chúng vào nguồngốc BáchViệtcổ ở Hoanam Trungquốc, bấtkể tínniệm nầy cóđược xếphạng trong ngữhệ Hán haykhông. Tínngưỡng thờcúng tổtiên — hay tục thờcúng ôngbà (祖先崇拜, 祖先教) — đã tồntại hơn nhiều nghìn năm rồi. Cùng với việc không bị xemnhư một tínngưỡng dângian mêtín, thờcúng tổtiên là một truyềnthống tâmlinh chínhđáng, đantủa vào bảnthể ngườiViệt. Truyềnthống này songhành với quanniệm Phậtgiáo vềsau vẽra một thếgiới vịlai hoákiếp, và tínngưỡng này sẽ chiphối hànhvi trong đờisống dươnggian dù ngườiViệt có theo các tôngiáo nàokhác đichăngnữa. 

Độngcơ tiềmẩn —  Một bộphận cánhân đứng bênlề họcthuật, thườngđược tuyểnchọn để lặplại các chiêubài do nhànước địnhhướng đưara, tạothành một dạng đốikháng tríthức mang tínhcơchế. Họ khôngthể tạora nổi những tiềnđề nềntảng cho nghiêncứu ngônngữhọc nghiêmtúc vì họ thiếu nănglực lýluận dựatrên chứngcứ. Vìthế, kỳvọng họ thừanhận hay tiếpcận một lýthuyết mớimẻ trong khunghệ phântích đươngthời là điều không thựctế.

Tácgiả xem việc tranhbiện kéodài với những quanđiểm tiệmtiến này là lãngphí thờigian. Đây cũnglà lýdo bàiviết được soạn bằng Anhngữ trướckhi chuyểndịch sang Việtngữ — một quyếtđịnh có chủđích nhằm tránh những thảoluận gâynhiễu và giữ khoảngcách với những độcgiả không thiệnchí tiếpcận nghiêmtúc các luậnđiểm được trìnhbày.

Một bàiviết riêng sẽ làm sángtỏ các độnglực chínhtrị chiphối ngônngữhọc Việtnam. Bànluận đó sẽ vạchrõ tácđộng của chúng lên khối nhânvăn và ảnhhưởng của chúng đốivới quátrình phânloại lại từnguyên Hán‑Nôm — một chủđề được nhấnmạnh xuyênsuốt nghiêncứu này.

NgườiViệt tíchhợp các yếutố tôngiáo khácnhau vào những biểuhiện tínngưỡng cụthể, như đặt ảnh tổtiên đã khuất cạnh tượng Phật hay thậmchí Chúa Giêsu, kèmtheo nghithức thắphương. Dù Phậtgiáo, Đạogiáo, Cônggiáo, Kitôgiáo, Hồigiáo hay các phongtrào bảnđịa như ĐạoCaođài hay ĐạoHoàhảo dunhập vào Việtnam theo những thờiđiểm khácnhau, tấtcả đều hộitụ trong các lễvật tâmlinh dâng lên tổtiên. Sự hoàquyện giữa Phật và Đạo này phảnánh sựtônkính bềnbỉ dànhcho cổnhân BáchViệt, những người đượcxemlà tổtiên của dânViệt.

Những truyềnthống tổtiên ấy vẫncòn hiệndiện trong các cộngđồng hậuduệ BáchViệt khắp miềnnam Trunghoa, như người Phúckiến, người Hảinam, dântộc Choang, cũngnhư các nhóm Nùng và Tày, những cộngđồng mà dấuấn vănhóa vẫncòn rõnét trong các đềnmiếu và địađiểm lễtế trênkhắp Việtnam.

Giảthiết NamÁ đángchúý ở chỗ không thừanhận vaitrò của giátrị tâmlinh trong giaiđoạn sơkhởi của quátrình hìnhthành cộngđồng. Sựthiếuvắng này còn lansang các bốicảnh lịchsử thiếtyếu để hiểurõ những giaiđoạn tiếptheo saukhi các bộlạc phânnhánh. Khi sosánh đốichiếu các lýthuyết ngônngữ, cần xétđến cấutrúc xãhội tiềnsử, vì chính chúng đã địnhhình ngônngữ chung trong các cộngđồng ở những giaiđoạn lịchsử được ghichép. Sựtiếntriển của ngônngữ cũngphải phảnánh các yếutố địachính, gồm hệthống kinhtế và cấutrúc quảntrị nhànước.

Những cânnhắc này đặcbiệt quantrọng trongviệc phânloại các ngônngữ thuộc Hán có liênhệ, như tiếng Ngô, Quảngđông và Mânnam, trong phạmvi ngữhệ Hán‑Tạng. Ngượclại, những nỗlực phủnhận nguồngốc BáchViệt cùng sựhoàtrộn với Hán — đặcbiệt là mốiliênhệ với nướcSở và các nhóm BáchViệt dướiquyền caitrị của nướcSở — chothấy cách chínhtrị cóthể bóplệch nghiêncứu ngônngữ, khiến nó lệchkhỏi quỹđạo tựnhiên. Một hiệntượng tươngtự cũng xuấthiện tại Việtnam, nơi tâmthế “chống-Tàu” ảnhhưởng đến ngaycả cách khépkhung phânloại họcthuật, nhấnmạnh nhucầu phântích tácđộng của chínhtrị lên nghiêncứu ngônngữ.

II) Tiếpcận thứhai: Đốichiếu từnguyên

Tiếpcận thứhai vẫn mang bảnchất Hánngữ nhiềumặt: từnguyên đốichiếu được tưliệuhoá đầyđủ, với tiếngHán giữ vaitrò chủthể. “Hánngữ” là thuậtngữ ngônngữhọc chuẩn, và các phươngngữ Hán thuộc ngữhệ Hán‑Tạng — một phânloại dựatrên quanhệ đồngnguyên loạihình, chứkhông dựatrên liêntưởng chínhtrị lịchsử. Chính sựđồngnguyên này kếtnối nhiều từ tiếngViệt với các phươngngữ thuộc Hán và với những ngônngữ Hán-Tạng và Tạng-Miến còn tồntại.

Để minhhoạ, hãy xét từ trong tiếngViệt, thểhiện mứcđộ đồngnguyên mạnh với các dạng Tạngcổ. Theo Shafer (1966–1974), ‘bò’ trong Tạngcổ xuấthiện dưới dạng ba, với các biếnthể trong nhóm Bodic như Tây Bodish Burig bā, Groma và Śarpa bo’, Dangdźongskad và Lhoskad ba, và Trung Bodish Lagate pa‑, Spiti, Gtsang và Dbus ãba bʿa. Các đồngnguyên khác gồm Mnyamslad và Dźad pa, Rgyarong (ki)‑bri, ‑bru, và các phươngngữ Bodic hiệnđại như New Mantśati ‘bòtó’, Tśamba Lahuli ‘bań’ (), hay Rangloi ‘bań‑ƫa’ ‘bòtó’.

Thêmvàođó, trong tiếngHán, chữ 牝 chỉ giốngcái tươngứng với Tạngcổ ãbri‑mobòtó cái đã thuần’. Cóthể giảđịnh một quanhệ từnguyên giữa ãbri‑mo trong tiếngViệt. Xét tầmquantrọng vănhóa và nôngnghiệp của ‘’, hay chínhxác hơnlà ‘trâunước’, đốivới nềnnôngnghiệp lúanước Việtnam, việc xem từ này như một vaymượn là điều rấtkhó chấpnhận, đặcbiệt trong khunghệ NamÁ Môn‑Khmer.

Những nỗlực giảđịnh từnguyên tiếngViệt trướcđây thường dựatrên phươngpháp “đặt cạnhnhau để đoán”, một lối tưduy trựcgiác có trướckhi lýthuyết NamÁ Môn‑Khmer xuấthiện trong ngônngữhọc Việtnam. Cách tiếpcận ấy thiếu độ tinhluyện phươngpháp, thểhiện qua nhiều vídụ bị gánnhầm. Nhiều nhànghiêncứu không phânbiệt được lớp từ Hán‑Việt với lớp từ Hán‑Nôm, chỉ chútrọng vào tầng siêutầng của lớp Hán‑Việt. Sựgiốngnhau bềmặt giữa từ Hán và từ Việt khiến nhiều bảng liệtkê gánghép sai từ Việt thành từvaymượn Hán.

Chẳnghạn, trongkhi từ Hán‑Việt cho 師 (HN ‘thầy’) được mởrộng, ta cũng nhậnthấy thầy là một đồngnguyên khác. Tiếptheosau, thầy trong thầymô phảnánh một dạng chuẩnhoá của 巫師 (HV ‘vusư’) theo trậttự âmtiết đảongược. Tươngtự, các từnguyên Hán‑Nôm như sãi (師 shī, HV ‘sư’ nhưtrong HN ‘sưsãi’) và phùthuỷ 巫師 (wūshī, HV ‘vusư’) chothấy các dạng tiếngViệt vượtra khỏi phạmvi vaymượn đơnthuần, bộclộ những cấutrúc đồngnguyên sâuhơn (xem Tsu‑lin Mei, What Makes Chinese So Vietnamese, APPENDICES), và cùng chiasẻ nguồngốc với thầycô 老師 (HV ‘giáo sư’). 

Các thídụ từ đồngnguyên khác gồm:

  • 婿 (xū, HV tể, HN ‘rể’)
  • 姑爺 (gūyě, HN ‘conrể’)
  • 女婿 (nǚxù, HN ‘chúrể’)

Những quanhệ từvựng này chothấy tiếngViệt tiếntriển qua sựtiếpxúc liêntục với nhiều phươngngữ Hán trong nhiều giaiđoạn lịchsử, cả theo chiều lịchđại (diachronic) lẫn đồngđại (synchronic).

Ngành họcthuật Hán‑Nôm hay Hán‑Việt đòihỏi một trìnhđộ cao tinhthông đođếm được trong việc phântích ngônngữ. Những họcgiả chuyênsâu về ngônngữhọc lịchsử Hán-Nôm ngàycàng hiếm, khiến độ nghiêmtúc trong nghiêncứu hiệnđại sụtgiảm đángkể. Nhiều bàiviết tiếngAnh, như đã nêura nhiềulần, mộtsố tácgiả phươngtây đã không phânbiệt được lớp từ Hán‑Việt (HV) với lớp từ Hán‑Việt (HN), một thiếusót nềntảng làm suygiảm độ tincậy của côngtrình.

Dù khôngnhắm phêphán trựctiếp vào ai, những nhầmlẫn nhưvậy vẫn phổbiến. Đồngthời, độcgiả phổthông của vănhọc Trunghoa thường khôngcóđược trìnhđộ của những họcgiả lớn như Karlgren hay Maspero.

Những sinhviên mới bướcvào lĩnhvực ngônngữhọc lịchsử Việtnam buộcphải đưara những lựachọn phươngpháp quantrọng ngaytừđầu. Việc tiếpnhận phươngpháp phươngTây và nhấnmạnh tínhkháchquan phi-chínhtrị cóthể hấpdẫn, nhưng sựchuyểndịch này không tựthân trangbị cho họ khảnăng giảiquyết những vấnđề ngônngữ cốtlõi gắnkết với các chủđề hàng thếkỷ liênquan đến nền kinhtế nôngnghiệp lúanước.

Phânloại Hán‑Tạng của và các từnguyên liênquan nêutrên là một trườnghợp điểnhình chothấy những yếutố nềntảng trong quátrình tiếntriển của tiếngViệt. Đángtiếc, nhiều người mớivàonghề lại nghiêngvề khunghệ NamÁ Môn‑Khmer vì nó có hệthống thuthập dữliệu và bảnbiểu từvựng rõràng. Tuynhiên, tiếpcận này thường không giảithích được những biếndịch ngữâm vốn có tính linhhoạt vốncó trong các đồngnguyên Việt‑Hán.

Nghiêncứu này vìthế tìmcách tinhluyện những lãnhvực trên bằngcách táiđịnhvị tiếngViệt qua lăngkính Hán‑Việt, nhấnmạnh các từnguyên có chứngcứ lịchsử thayvì những giảđịnh suydiễn trong khunghệ NamÁ Môn‑Khmer.  (1)

III) Bốicảnh lịchsử và vănhóa

Việc tíchhợp nhiều gócnhìn — tôngiáo, chínhtrị, khảocổ, nhânvăn, lịchsử và trìnhđộ ngônngữ — là thiếtyếu để hiểu tiếntrình tiếntriển của tiếngViệt và để vậndụng hai tiếpcận mới đềra. Những người được giáodục theo môhình phươngTây, với tưduy thựcdụng, thường cổxuý côngnghiệphoá như một nguyêntắc tiếntriển. Đến đầu thếkỷ 20, chủnghĩa côngnghiệp phươngTây đã chứngminh hiệuquả trong nhiều thiếtchế, dẫnđến niềmtinrằng độ chínhxác khoahọc và phươngphápluận chặtchẽ cóthể được ápdụng vào ngônngữhọc lịchsử.

Quyếttâm hiệnđạihoá ngành ngônngữ, các nhàcảicách đã dẫnđầu việc ápdụng hệthống chữviết Quốcngữ Latinhhoá . Việtnam tiếpnhận tưtưởng phươngTây mạnhmẽhơn với thếhệ họcgiả đầutiên được giáodục bằng tiếngPháp sau ngày độclập khỏi thựcdân Pháp 20/7/1954 — một sựđoạntuyệt dứtkhoát với ảnhhưởng Trunghoa, chấmdứt truyềnthống nghìnnăm. Trong giaiđoạn chuyểntiếp này, giớihọcthuật hànhđộng nhanhchóng để loạibỏ chữNôm dựatrên Hántự, đồngthời thuhẹp dần vaitrò của tiếngPháp trong hệthống giáodục thuộcđịa.

Khôngcógì ngạcnhiên khi những người ủnghộ phươngpháp phươngTây ưachuộng các côngcụ đođếm được hơnlà các tiếpcận diễngiải truyềnthống, đềcao độ chínhxác thayvì ướclượng trong nghiêncứu từnguyên tiếngViệt. Tuynhiên, mộtsố lýthuyếtgia đã đẩy tưduy này đếnmức cựcđoan. Từ cuối thếkỷ 19 đến đầu thiênniênkỷ mới, nhiều họcgiả được đàotạo theo môhình Pháp tiếptục lặplại quanđiểm xemthường — được cholà do các nhàngữpháp ngườiPháp đềxướng — rằng tiếng “Annam” khôngcó hệthống ngữpháp riêng và cần dựavào ngữpháp tiếngPháp để viết chođúng. Ngộnhận này củngcố cáchphânloại tiếngViệt như một ngônngữ côlập, được địnhnghĩa bằng trậttự cúpháp cứngnhắc thayvì biếnhình từvựng, cốgắng nhét nó vào các môhình ngônngữ biếnhình như Đức, Nga hay Latinh. Các nhàngônngữhọc phươngTây cũng ápdụng khunghệ này cho tiếngHán.

Trên thựctế, tiếngViệt và tiếngHán không hoàntoàn phùhợp với cách phânloại ấy. Nhãn “ngônngữ côlập đơnâmtiết” mang trọnglượng xuyêntạc lớn và thường gắnvới những tranhluận gaigóc về phânloại ngônngữ. Vấnđề này sẽđược bàn sâuhơn trong chương về tính songâm, nơi cấutrúc tiếngViệt và tiếngHán sẽ được khảosát kỹlưỡng.

Trong bốicảnh hiệnđại, ảnhhưởng phươngTây vượtra khỏi phạmvi phânloại ngônngữ, lenvào đờisống hằngngày, địnhhình thịhiếu vănhóa theo những cách khôngthể đơnthuần đánhgiá đúng‑sai. Nhiều thựchành truyềnthống của ngườiViệt được táidiễn giải qua lăngkính phươngTây, phảnánh một xãhội toàncầuhoá nơi các truyềnthống hoàtrộn và thích-ứng.

Các vídụ Tâyhoá trảidài đủ mọimặt trong đờisống xãhội, không chỉ riêng gì trong ngành họcthuật ngônngữhọc. Thídụ, từ việc chẩnđoán trong ngành Tâyy thaythế các phươngthuốc cổtruyền — nay thường bị xemnhư lựachọn saucùng — đến các thịhiếu vănhóa xoayquanh những ngàylễ được thươngmạihoá như Giángsinh, Tết Dươnglịch, Lễ Tìnhnhân, Ngày của Mẹ, hay Halloween (Lễcôhồn của Mỹ). Tậptục hônnhân cũng thayđổi, với sựphổbiến của các lễcưới kiểu phươngTây: áocưới màutrắng, nhẫnkimcương, và cả trong tangchế với tangphục màuđen — đốilập rõrệt với tangphục truyềnthống Việtnam bằng vảisô trắng.

Dùcó những chuyểndịch vănhóa ấy, chữHán vẫnđược dùng rộngrãi trong các nghilễ và sinhhoạt tôngiáo. Từ câuđối Tết, kinhcầunguyện, đến bàivị tổtiên trong đềnmiếu và bànthờ, sựhiệndiện của chúng chothấy một sựtônkính truyềnthống bềnbỉ.

Các lýthuyếtgia NamÁ Môn‑Khmer phươngTây cũng ápdụng một lăngkính tươngtự vào nghiêncứu tiếngViệt, phânloại theo xuhướng chủđạo. Tuynhiên, một tiếpcận cânbằng là cầnthiết — tiếpcận có khảnăng điềuhoà các quanđiểm đốinghịch để xâydựng một khungnền từnguyên baoquát hơn.

Những saibiệt trong các từnguyên Hán‑Nôm mớiđược nhậndiện, các từ Nôm có nguồngốc Hán, hay Hán‑Nôm, cóthể bổsung cho các pháthiện NamÁ Môn‑Khmer thayvì phủđịnh chúng. Lýtưởng nhất, các pháthiện từnguyên từ cảhai phía nên cùng tồntại thayvì bị bácbỏ. Các đồngnguyên Việt trong ngônngữ Môn‑Khmer không nhấtthiết phủnhận nguồngốc Hán hay Hán‑Tạng của chúng.

Chẳnghạn, khảosát hệthống sốđếm Khmer — dựatrên hệ cơsố năm — cóthể cungcấp gócnhìn mới cho từnguyên sốđếm. Khi phávỡ hệ này thành nhịphân rồi chuyểndịch trởlại hệ thậpphân, ta cóthể tìmthấy những giảithích cho các sốđếm cơbản vốnlà trọngtâm của lậpluận NamÁ Môn‑Khmer từkhi lýthuyết này hìnhthành. (Xem Mon-Khmer And Vietnamese Basic Words)

Nói mộtcách ẩndụ, cóthể sosánh tiếpcận NamÁ Môn‑Khmer với một cuộc hônnhân sắpđặt theo phongtục Trunghoa, nhưng khoáclên chiếc áocưới kiểu phươngTây — khácvới trangphục truyềnthống xưanay, song vẫngiữ các nghithức thấmđẫm yếutố Việt. Nói cách khác, lýthuyết NamÁ Môn‑Khmer về ngônngữhọc lịchsử tiếngViệt khôngthể hoàntoàn nếu không thừanhận ảnhhưởng Hán, chúng vốn gắnbó khôngthểphân với quátrình tiếntriển của tiếngViệt.

Các nhà ngônngữ NamÁ Môn‑Khmer cóthể nêura những luậnđiểm hợplý, nhưng chúng cầnđược củngcố bằng chứngcứ lịchsử. Thựctế này bắtnguồn trựctiếp từ 1009 năm Việtnam nằm dưới quyền caitrị của các triềuđại Trunghoa, bênngoài những tiếpxúc tiềnsử sớm hơn. Dù các chitiết cóvẻ phứctạp, chúng vẫn chưađược giảiquyết thoảđáng trong giớihọcthuật.

Phươngpháp Tâyphương cungcấp một khungmẫu hữuích để giảiquyết các vấnđề phânloại ngônngữ còn tồntại. Tuynhiên, cần thừanhận rằng nềntảng ngônngữ tiếngViệt đã hiệndiện từlâu trướckhi các họcgiả phươngTây bắtđầu phântích cóhệthống vào thếkỷ 20. Những tưliệu thiếtyếu như tựđiển và vậnthư — Éryá 爾雅, Shuōwén 說文, Tángyùn 唐韻, Guǎngyùn 廣韻, cùng các chúgiải phươngngữ trong Tựđiển Khanghi thếkỷ XVII — đều đã cósẵn. Các họcgiả phươngTây cần tiếpcận sâuhơn với những nguồn thưtịch này thayvì cố xâydựng các lýthuyết hoàntoàn mới, như giảthiết NamÁ, chứ không vì sựtiệnlợi khi xửlý một lĩnhvực đã tồntại cả nghìn năm.

Hãy xétđến nhậnđịnh sailệch rằng “tiếngViệt khôngcó ngữpháp; hãy dùng ngữpháp Pháp thaythế.” Cáchnghĩ này chỉlà một lốitắt nhằm nétránh sựphứctạp của ngữpháp tiếngViệt — tươngtự như cách mộtsố người tìmcách láchkhỏi việc học tiếng Háncổ và Hán hiệnđại. Những khẳngđịnh dựatrên tiệnlợi thayvì liêmchính họcthuật cuốicùng đều phảntácdụng.

Chođến cuối thếkỷ 18, giớihọcthuật phươngTây chỉcó hiểubiết rất hạnchế về tiếngHán (xem Knud Lundbæk, 1986). Độkhó của Hánngữ học và ngônngữhọc lịchsử Hán buộc họ phải tìm các tiếpcận thaythế. Dù mộtsố phươngpháp đã gópphần thúcđẩy phânloại ngônngữ, những đơngiảnhoá nhằm phụcvụ độcgiả phươngTây thường không phảnánh được sựtinhvi lịchsử và vănhóa trong quátrình tiếntriển của tiếngViệt.

Việc điềuhoà phươngpháp ngônngữ với thựctế lịchsử đòihỏi sựtiếpcận nghiêmnhặt với nguồn tưliệu gốc. Dù khảosát tiếngViệt trong khunghệ Hán‑Nôm hay NamÁ Môn‑Khmer, ngườinghiêncứu phải nhậnthức được tácđộng của lịchsử địalý‑chính trị Việtnam lên quỹđạo ngônngữ của nó.

Đúngthế, thayvì ápđặt những cấutrúc lýthuyết táchrời bốicảnh lịchsử, việc nghiêncứu ngônngữ cần hướngđến một sựtổnghợp cânbằng, tôntrọng các tiếpxúc lịchsử được ghichép, các chuyểndịch vănhóa, và các cấutrúc ngônngữ đang tiếntriển.


Hình 3 ,  Han's Giaochau Prefecture in 111B.C.
Source: http://chinese-dialects.blogspot.com/2010/08/blog-post_22.html


IV) Kỹthuật đốichiếu liênkết từvựng tiếngHán với tiếngViệt

Độcgiả cóthể thắcmắc vìsao tiếngViệt lại tíchhợp được những từ mang yếutố Môn‑Khmer vào hệthống của mình. Quátrình này diễnra qua phươngthức đặcthù: Việthoá bằng thanhđiệu, tức gán các độ phânbiệt thanhđiệu cho từng âmtiết vaymượn — tươngtự cách tiếngViệt đã thích-ứng các từvaymượn Pháp trong hệthống ngữâm của mình.

Phươngpháp đốichiếu bắtđầu bằngviệc đặt các từ tiếngViệt cạnh các từnguyên Hán tươngứng trên cảhai bìnhdiện ngữnghĩa và ngữâm. Thayvì côlập từng âmtiết, phântích nhóm các dạng tiếngViệt theo cấutrúc đaâmtiết dựatrên hạtnhân ngữâm, rồi sosánh chúng với các môhình ngữâm Hán. Tiếpcận này bộclộ những đồngnguyên bị chekhuất mà các phươngpháp truyềnthống không nhậnthấy, chonên những tươngứng vẫncòn nằmẩn dưới bềmặt. Chẳnghạn, kháiniệm thờ trong tiếngViệt cộnghưởng với nhiều từnguyên Hán: 侍 (SV thị), 祠 (SV từ), 祀奉 (HN thờphượng), 奉事 (HV phụngsự). Những sochiếu này chothấy từvựng tiếngViệt thamgia vào các trườngnghĩa Hán‑Tạng rộnghơn, bắtcầu từ sùngkính tâmlinh đến trungthành chínhtrị.

Liênquan đến câuhỏi về sự hiệndiện của các đồngnguyên NamÁ Môn‑Khmer trong lớp từvựng cơbản tiếngViệt, các pháthiện của tácgiả chothấy nhiều từnguyên Hán‑Việt đồngthời xuấthiện trong từnguyên Hán‑Tạng, hoàntoàn tươngứng với các dạng Hán-Nôm. Thídụ, ngà (牙 yá, HV ‘nha’) và máu (衁 huāng, HV ‘hoang’) thểhiện rõ sựtươngứng ấy. (2) Vềmặt sốlượng, các từnguyên này vượtxa nhóm từ Môn‑Khmer thường vốnđược tríchdẫn và lặplại trong nghiêncứu NamÁ. Vềmặt chấtlượng, chúng mang những đặcđiểm “ditruyền” ngônngữ tinhvi mà các từ tiếngViệt chỉ giống Môn‑Khmer bềmặt.  (3)

Những bànluận rộnghơn về các điểm tươngđồng giữa tiếngHán và tiếngViệt — từ cụmtừ, thànhngữ, quánngữ đến các tươngứng cấutrúc — vẫncòn là một chủđề tranhluận kéodài. Các tươngđồng này phảnánh mứcđộ ảnhhưởng sâurộng của vănhóa Hán lên quátrình tiếntriển của tiếngViệt qua nhiều thếkỷ. Quátrình tiếpnhận ngônngữ này cóthể được chia thành ba giaiđoạn riêngbiệt:

  • Thờikỳ trước năm 111 TCN, khi các yếutố ngônngữ BáchViệt đã bámrễănsâu vào các ngônngữ được sửdụng khắp vùng Hoanam Trungquốc.

  • Giaiđoạn mộtngànnăm Bắcthuộc, khi quátrình Hánhoá được đẩymạnh và các thựchành ngônngữ hànhchính được củngcố.

  • Thờikỳ sau thếkỷ 10, khi quốcgia độclập ĐạiViệt tiếptục tiếpnhận có chọnlọc các yếutố Hán để phụcvụ quảntrị và họcthuật, dù với tốcđộ chậm hơn sovới hai giaiđoạn trước.

Việtnam vẫn sửdụng ngônngữ hànhchính bằng chữHán trong hồsơ nhànước và vănbản họcthuật rấtlâu saukhi táchkhỏi Trunghoa vào cuối thếkỷ 19. Điềunày tươngđồng với Nhật và Hàn, những nước đã chủđộng tiếpnhận từvựng dựatrên Hántự trong thời Đường.

Qua thờigian, quátrình tiếntriển ấy đã địnhhình tiếngViệt thành một thựcthể riêngbiệt, nhưng vẫngiữ những ràngbuộc lịchsử sâusắc với nguồngốc Hán‑Việt BáchViệt của nó. (4)

“Nhậtbản dunhập và tiếpthu chữHán mộtcách hoàntoàn có chủđích rõrệt là làmgiàu tựvựng của ngônngữ họ vào thời nhàĐường.”



Ngônngữ tiếntriển mộtcách tựnhiên qua thờigian, được địnhhình bởi sự truyềnthụ cho từng thếhệ. Từ thờicổđại đếnnay, tiếngViệt pháttriển theo một quỹđạo liêntục, không bị cưỡngép, đảmbảo sựtiếntriển tựnhiên của nó. Trong khẩungữ, ngườiViệt thuộc nhiều tầnglớp — từ họcgiả, thươngnhân, đến người buôngánhbánbưng — vẫn sửdụng một hệ ngônngữ giàu lớp từ Hán‑Nôm và Hán‑Việt, những thànhphần thiếtyếu trong đờisống hằngngày.

Vềmặt từvựng, tiếngViệt chứa một sốlượng lớn các từ tươngứng trựctiếp với từnguyên Hán, chẳnghạn:

  • ăn ~ 唵 ǎn (SV àm)
  • ngủ ~ 臥 wò (SV ngoạ)
  • đụ ~ 屌 diào (SV điệu)
  • ỉa (‘poop’) ~ 屙 é (SV a)
  • uống ~ 飲 yǐn (SV ẩm)
  • trừng ~ 瞪 dèng (SV trừng)
  • nói ~ 聊 liáo (SV liễu)
  • nấu ~ 熬 áo (SV ngao)
  • gạo ~ 稻 dào (SV đạo)
  • gà ~ 雞 jī (SV kê)

Sựhiệndiện của những từ này chothấy mứcđộ tươngứng từnguyên gầngũi giữa tiếngViệt và tiếngHán, khiến chúng khôngthể phânbiệt với từ thuầnViệt qua quátrình thíchứng ngữâm tựnhiên. Việc các từ này cóphải chúng trựctiếp phátxuất từ tiếngHán haykhông vẫncòn là chủđề nghiêncứu, nhưng sựhoàntoàn hoànhập của chúng vào hệthống ngữâm tiếngViệt chothấy một quátrình truyềnthụ tựnhiên hơnlà sựápđặt.

Ngoài lớp từ cơbản ấy, tiếngViệt còngiữ nhiều tươngđồng ngữâm với các phươngngữ miềnnam Trungquốc, như Hảinam. Chẳnghạn:

  • xơi ~ 食 shí (Hai. /zha2/)
  • bể ~ 破 pò (Hai. /be6/)
  • bồng ~ 抱 bāo (Hai. /bong2/)

Tiếng Hảinam, thuộc phươngngữ Mânnam, có nguồngốc từ các ngônngữ BáchViệt, càng củngcố lýthuyết Hán‑BáchViệt về một disản ngônngữ chung.

Trong tiếngViệt hiệnnay, trên 90% từ trong một câu cơbản thuộc tầng Hán‑Việt, chưađến 10% là từ thuầnViệt hay Nôm. ngaycả trong nhóm từ tiếngNôm, nhiều từ có đồngnguyên tiếngHán rõrệt, xácnhận chúng là các biểuthức bảnđịa được Hánhoá theo thờigian. Chẳnghạn:

  • dừa ~ 椰 yé (SV gia)
  • chuối ~ 蕉 jiāo (SV chiêu)
  • đường ~ 糖 táng (SV đường)
  • sông ~ 江 jiāng (SV giang)
  • gạo ~ 稻 dà (SV đạo)

Ngaycả những từ đượcxemlà thuầnViệt cũng cóthể truynguyên về Hán hoặc các từnguyên BáchViệt chung, vốncòn được ghichép trong Quảngđông hay Phúckiến. Chẳnghạn, 睇 /t'ej3/ (‘thấy’) và 檨 /soã/ (‘soài’) đã tiếntriển thành thấysoài trong Quốcngữ, vẫngiữ độ gầngũi ngữâm với các dạngcổ dùcó những saibiệt nhỏ theo thờigian. (Xem Vietnamese Parallels With the Sino-Tibetan Languages)

Ngoàira vềmặt ngữpháp, cấutrúc câuvăn tiếngViệt hiệnđại có nhiều điểm tươngđồng với lối Hánvăn cổđiển trong các tácphẩm bạchthoại (vănnói) lớn từ thếkỷ 12 trởđi, chophép chuyểndịch gầnnhư từng‑chữ‑một. Tuynhiên, các tácphẩm thếkỷ 16 của Việtnam — kểcả kinhđiển Phậtgiáo — thường mang âmhưởng “Shakespearean” đốivới ngườiViệt ngàynay, khiến việctiếpthu trởnên khókhăn.

Có hai lýdo chính giảithích sự chênhlệch ngônngữ này:

  1. Đốitượng tiếpcận — các vănbản thếkỷ 16 được giới nho sĩ Việtnam viết dànhcho đốitượng biếtđọcbiếtviết chữ Nho giống họ, trongkhi tiểuthuyết sángtác bằng bạchthoại Quanthoại, phảnánh ngônngữ khẩungữ đươngthời, là dành cho đạichúng.

  2. Tiếntriển ngữpháp — các trướctác Annam cổ khácbiệt đángkể sovới ngữpháp tiếngViệt hiệnđại, vốn chịu ảnhhưởng của cấutrúc cúpháp Pháp do hệthống chữ Latinhhoá được các họcgiả Tâyhọc như Petrus Trương Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh giớithiệu vào đầu thếkỷ 20. (5) 

Sựtiếntriển này đã tinhluyện vănbản tiếngViệt, đưavào các cấutrúc câuvăn có tổchức, lậpluận theo luậnđề, và một hệthống chấmcâu quychuẩn. Hệquả là tiếngViệt hiệnđại kếthợp lớp từ Hán‑Nôm trong một khung ngữpháp chịu ảnhhưởng Pháp, pháttriển độclập với tiếngHán nhưngvẫn phảnánh những chuyểndịch vănhóa rộnghơn. Quỹđạo ngônngữ này chothấy ngônngữ và vănhóa cùng tiếntriển songhành, củngcố lẫnnhau qua thờigian.

V) Những thửthách và khảnăng tiếpnhận

Dù các kỹthuật đốichiếu này mởra nhiều triểnvọng, những trởngại lớn vẫncòn đó. Tưliệu Hán‑Tạng phầnlớn vẫn bị giớihạn trong ấnbản giấy, đòihỏi việc tracứu côngphu qua tựđiển, phụcnguyên từnguyên và các côngtrình họcthuật vănhoá. Ngượclại, các tườngthuật NamÁ chiếmưuthế trên internet, địnhhình tranhluận phânloại chỉ nhờvào độ dễtiếpnhận. Sựmấtcânđối này tạora một tháchthức thựctiễn: cả họcgiả lẫn độcgiả đều gặp các giảithích NamÁ trước, trongkhi bằngchứng Hán‑Tạng lại ẩn sau các nguồn tưliệu chuyênbiệt. vìthế, nhiệmvụ đặtra khôngchỉlà phươngpháp mà cònlà biêntập: làmcho các kếtquả đốichiếu dễ tiếpnhận, xâydựng thưmục cânbằng giữa độ baoquát và dễ đọchiểu, và trìnhbày kếtquả theo những địnhdạng mờigọi sự thamgia. Giảiquyết những tháchthức này giúp việc phânloại tiếngViệt được xemxét lại trên một mặtbằng côngbằng, với cảhai truyềnthống cùng hiệndiện trước côngchúng.

Ngônngữ tiếntriển tựnhiên . Saibiệt phươngngữ là hiệntượng phổquát khiến ngônngữ táchrời khỏi dạngcổ nguyênthuỷ. Trong khônggian rộnglớn của Trungquốc cổ, tiếngHán thờicổ phânnhánh thành bảy phươngngữ lớn, rồi trởnên khôngthể thônghiểu vớinhau từ vùngnày sang vùng khác. Mỗi phươngngữ ấy lại tiếptục phânnhánh thành vôsố thổngữ. Tươngtự, các từ tiếngHán-Trungcổ vaymượn vào tiếngNhật — được Bernhard Karlgren phụcnguyên — chothấy nhiều saibiệt sovới lớp Hán‑Việt, cả về ngữâm lẫn ngữnghĩa.

Thậtvậy, sự chiacách khônggian và thờigian thờixưa, tiếngViệt cũng đitheo một quỹđạo riêng. Riêng chỉ sau hai thậpniên phânchia Bắc‑Nam (1954–1975), các saibiệt ngônngữ đã xuấthiện, đếnmức người ở hai miền đôikhi khóhiểu cáchdùng từ của nhau. Điềunày chothấy tácđộng sâusắc của địalý và biếnđộng lịchsử lêntrên sựphânhoá ngônngữ, chứngminh rằng ngaycả những khoảngcách ngắnngủi cũng đểlại dấuấn lâudài. (Xem What Makes Chinese So Vietnamese - Appendix O.)

Vềmặt lịchsử, saukhi Annam táchkhỏi quỹđạo Trunghoa năm 939 SCN, tiếngViệt tiếntriển độclập, giảmthiểu mứcđộ Hánhoá và pháttriển thành dạng Việtcổ sơkhởi. Quỹđạo này đốinghịch rõrệt với sựtiếntriển của các phươngngữ miềnnam Trunghoa như tiếng Quảngđông, Phúckiến, Hảinam và Đàiloan. Dùcó nguồngốc từ các ngônngữ BáchViệt, các phươngngữ này đã chịu ảnhhưởng tiếngHán quá mạnh, chứađựng quánhiều từvựng Hán miền Hoabắc thuộc tiếng Quanthoại, chonên đếnmức ngàynay chúng được phânloại như phươngngữ Hán thayvì ngônngữ BáchViệt lịchsử.

Trớtrêu thay, phái NamÁ lại dùngchung một luậnđiểm tươngtự: họ quy mứcđộ Hánhoá của tiếngViệt cho quátrình vaymượn, thayvì thừanhận nguồngốc pháisinh, đólà, thídụ, sinh thành sống, ngoạ thành ngủ, ẩm thành uống, v.v. Cóđiều, phe NamÁ quênmất là từ cơbàn nguyênsơ rất khó vaymượn, mà đây lại chínhlà luậnđiểm họ đã đưara để biệnluận cho nguồngốc Môn-Khmer của họ.

Trong quátrình pháttriển, dù mởrộng địalý qua nhiều thếkỷ, lõi tiếngViệt vẫngiữđược tính thốngnhất dù vẫncó phươngngữ riêng từngvùng. TiếngViệt miềnBắc nổibật với mứcđộ dùng từ Hán‑Việt caohơn — cólẽ do phíabắc gần biêngiới Trungquốc — trongkhi tiếngViệt miềnNam tiếpnhận yếutố Chăm và Khmer từ thiểusố dântộc sống hoàđồng trong suốt 1100 năm qua. Tuyvậy, ngườiViệt ở mọi vùng ngườiViệt vẫn hiểuđược các saibiệt phươngngữ.

Ngữhệ Tai‑Kadai trướcđây từng đượcxem là một ngữchi của ngữhệ Hán‑Tạng. Tuynhiên, ngoài Trunghoa, chúng nay được côngnhận như một ngữhệ độclập. Dù các ngônngữ thuộc hệ nầy chứa nhiều từ tươngtự với Hán‑Tạng và Hán-Miến, các tươngđồng ấy hiếmkhi nhấtquán trên toànbộ các phânnhánh của Tai‑Kadai. Hơnnữa, chúng không baogồm lớp từ cơbản, chothấy đâylà những từvaymượn cổđại chứkhôngphải đặcđiểm ditruyền của ngônngữ.

(Tai-Kadai languages - Nguồn: Wikipedia.org)

Nhìnchung ngônngữ tiếntriển qua sựtruyềnthụ qua từng thếhệ. Tuynhiên, lịchsử cũng ghinhận nhiều trườnghợp ngônngữ bị diệtvong, như gầnđâynhất vào vào thờiđại chúngta bênnhà ônghàngxóm khổnglồ vuatôi triềuđình nhàThanh chưatới 300 năm đã đánhmất tiếng Mãnchâu của họ và tiếngnói đó được thaythế hoàntoàn bằng tiếng Quanthoại của ngườiHán — một quátrình mà chính Quanthoại cũng đã hấpthu yếutố Mãnchâu làm rụng mất 4 thanhđiệu nguyênthuỷ, giảmthiểu âmvận, và mộtsố âmđuôi cũng bị triệttiêu.

Ngoàira sựcanthiệp của nhànước thường đedoạ các cộngđồng ngônngữ thiểusố. Quátrình Hánhoá tiếngQuảngđông là một vídụ điểnhình, bắtđầu từ năm 1911 lúc nhàThanh sụpđổ. Khi Trunghoa trởthành nước cộnghoà do bị nhàcáchmạng Tôn Dật Tiên lãnhđạo lậtđỗ. Ông là ngườiQuảngđông, và khuynhhướng sửdụng tiếng Quảngđông để làm ngônngữ chung được mangra ápdụng. Tuynhiên vềsau theo sựpháttriển lịchsử như ta đãthấy, sứcmạnh quânsự của dân Hoabắc nóitiếng Quanthoại từ các sứquân miềnBắc gây áplực buộc ông nhường chức tổngthống cho Viên Thế Khải, ngườiBắcphương nhưtừbaogiờ,  chủtrương dùng Quanthoại làm quốcngữ thayvì tiếngQuảngđông.

Trong thời hiệnđại, các chínhsách này ở Đạilục Trungquốc vẫn tiếptục, như theo lệnhcấm của Tập Cận-Bình,  phátsóng truyềnhình khôngcòn được dùng tiếngQuảngđông ngaytại Quảngđông — một nỗlực đồnghoá ngônngữ.

Những phứctạp tươngtự cũng xuấthiện trong phânloại ngônngữ thiểusố tại Trunghoa. Chẳnghạn, tiếng Choang (Nùng) từng được xếphạng vào ngữhệ Hán‑Tạng (Shafer, 1941), nhưng ở phươngTây ngônngữ này được phânloại vào Tai‑Kadai (Fang‑Kuei Li, 1966). Điềunày chothấy bảnchất tiếntriển của phânloại ngônngữ và tácđộng của chínhtrị cùng xãhội‑ngônngữhọc lên việc côngnhận ngônngữ.

Kếtluận

Trong bốicảnh thiếuvắng các nghiêncứu mới và thuyếtphục, các họcgiả theo khunghệ Hán‑Tạng ngày càng gặp khókhăn trongviệc tạo ảnhhưởng họcthuật. Bàiviết này đặt nềnmóng cho một hướng tiếpcận mới đốivới mối liênhệ Hán‑Tạng và tiếngViệt — một lĩnhvực lâu nay bị che mờ bởi môhình NamÁ Môn‑Khmer. Tuynhiên, khung NamÁ ấy đang ngày càng bị tháchthức mạnhmẽ.

Qua phântích lịchsử và ngônngữ, nghiêncứu này nhấnmạnh nhucầu táiđịnhhình phânloại tiếngViệt. Bằngcách khảosát các lực tácđộng bênngoài địnhhình tườngthuật ngônngữ, thảoluận mởđường choviệc đánhgiá lại toàndiện ngônngữhọc tiếngHán và tiếngViệt, baogồm tiếntriển ngữâm và nhậndiện các từ đồngnguyên cốtlõi nằmẩn trong tầng từnguyên Hán‑Tạng.

Trong hơn 2000 năm, cưdân Hán thời hậu‑Tần và Hán đã hoàhợp dần với cưdân BáchViệt, sưkiện nầy đã địnhhình bảnsắc ngườiViệt hiệnđại. Sựchuyểnhóa này diễnra qua nhiều vòng hoàhuyết với các cộngđồng bảnđịa. Dù môhình sốhoá dântộc được trìnhbày ởđây khôngnhắm đạt độ chínhxác tuyệtđối, nó đóng vaitrò như một khung khởiđiểm để khuyếnkhích việc nghiêncứu sâuhơn về sựtiếntriển của cưdân Annam cổ.

Nỗlực khôi phục tínhkháchquan trong nghiêncứu khôngchỉ giớihạn trong ngônngữhọc lịchsử tiếngViệt. Các ngành như ditruyền-sinhhọc cũng đang truytìm nguồngốc dântộc bằngcách lập bảnđồ bộ gen của các cộngđồng mụctiêu. Những nghiêncứu này sẽ đónggóp vào tiếnbộ của ngônngữhọc và củngcố tính liênngành của côngtrình này. (9)

Âmvọng của BáchViệt vẫn ngânvang trong bảnsắc ngườiViệt — khôngphải như những tàndư mờnhạt, mà đólà những âmvang sốngđộng kếttủa từ ngônngữ, vănhóa và lịchsử dântộc.

“Ngônngữ khôngphải là tậphợp những kýhiệu côlập màlà kholưutrữ sống của lịchsử.”



Sách Thamkhảo:

Aitchison, Jean. 1994. Language Change: Progress or Decay? Cambridge University Press.

Alves, Mark J. 2001. “What’s So Chinese About Vietnamese?” In Papers from the Ninth Annual Meeting of the Southeast Asian Linguistics Society, edited by Graham W. Thurgood, 221–242. Arizona State University, Program for Southeast Asian Studies.

Alves, Mark J. 2007. “Categories of Grammatical Sino‑Vietnamese Vocabulary.” Môn‑Khmer Studies 37: 217–229.

Alves, Mark J. 2009. “Loanwords in Vietnamese.” In Loanwords in the World’s Languages: A Comparative Handbook, edited by Martin Haspelmath and Uri Tadmor, 617–637. De Gruyter Mouton.

An Chi. 2016–2024. Rong chơi Miền Chữ nghĩa, Vols. 1–5. Ho Chi Minh City: NXB Tổng hợp TP HCM.

An Chi. 2024. Từ nguyên. Ho Chi Minh City: NXB Tổng hợp TP HCM.

Baxter, William H. III. 1991. “Zhou and Han Phonology in Shijing.” In Studies in the Historical Phonology of Asian Languages, edited by William G. Boltz and Michael C. Shapiro. Amsterdam: John Benjamins.

Benedict, Paul. 1975. Austro‑Thai Language and Culture. New Haven: HRAF Press.

Karlgren, Bernhard. 1957. Grammata Serica Recensa. Stockholm: Museum of Far Eastern Antiquities.

Karlgren, Bernhard. 1960. “Tones in Archaic Chinese.” Museum of Far Eastern Antiquities 32: 113–142.

Karlgren, Bernhard. 1964. “Loan Characters from Pre‑Han Texts II.” Museum of Far Eastern Antiquities 36: 1–106.

Kelley, Liam C. 2012. “The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition.” Journal of Vietnamese Studies 7 (2): 87–122.

Nguyễn, Đình‑Hoà. 1966. Vietnamese‑English Dictionary. Tokyo: Charles E. Tuttle Company.

Nguyễn, Tài Cẩn. 1979. Nguồn gốc và Quá trình Hình thành Cách đọc Âm Hán Việt. Ho Chi Minh City: NXB khoahọc Xã hội.

Nguyễn, Tài Cẩn. 2000. Giáo Trình Ngữ âmlịch sử Tiếng Việt. Ho Chi Minh City: NXB giáodục.

Pulleyblank, E. G. 1984. Middle Chinese: A Study in Historical Phonology. Vancouver: University of British Columbia Press.

Shafer, Robert. 1966–1974. Introduction to Sino‑Tibetan, 4 vols. Wiesbaden: Otto Harrassowitz.

Sidwell, Paul. 2010. “The Austroasiatic Central Riverine Hypothesis.” Journal of Language Relationship 4: 117–134.

Taylor, Keith Weller. 1983. The Birth of Vietnam. Berkeley: University of California Press.

Wang, Li. 1948. HanYueyu Yanjiu. Lingnan Journal 9 (1).

Zhou, Zumo. 1991.


CHÚTHÍCH


(1)Thídụ, 果 guǒ biếnhoá linhhoạt trong trườnghợp HN tráicây (水果 shuíguǒ, HV 'hoaquả'), và cóthể trởthành HN kẹo như một dạng rútgọn của kẹođường (糖果 tángguǒ, HV 'đườngquả', HN 'kẹođường'), trongđó mỗi âmtiết xuấtphát từ 果 guǒ lại mang một ngữnghĩa khácnhau. Cơchế âmvận trong trườnghợp này không vậnhành một cách cứngnhắc hay đồngnhất.

(2)"máu" 衁 huāng (HV hoang) [ QT 衁 huāng, nǜ < MC hwaŋ < OC *hmaːŋ | *OC 衁 亡 陽 荒 hmaːŋ | Dialect: Cant. /fong1/ | MC 宕合三平陽微 | FQ 武方 | Shuowen: 血也。从血亡聲。 《春秋傳》曰:“士刲羊,亦無衁也。” 呼光切〖注〗《字彙》作𥁃。又 𧖬、𧖭,同。 | Kangxi: 《康熙字典·血部·三》衁:《唐韻》《集韻》《正韻》𠀤呼光切,音荒。《說文》血也。《左傳·僖十五年》士刲羊,亦無衁也。《韓愈詩》衁池波風肉陵屯。《字彙》又入皿部,書作𥁃,非 | Guangyun: 衁 荒 xwɑŋ hʷɑŋ hwaŋ huang1 huang xuang 血也 || Wiktionary.org: Hìnhthanh (形聲, OC hmaːŋ): thanh phù 亡 (OC maŋ) + ý phù 血 (“máu”). Từnguyên: vaymượn từ NamÁ. Sosánh Proto‑Mon‑Khmer *ɟhaam ~ ɟhiim (“máu”), Khmer ឈាម chiəm, Mon ဆီ chim, Proto‑Bahnaric bhaːm, Proto‑Katuic ʔahaam, Proto‑Khmuic maː₁m. TiếngHán có vầncuối /‑ŋ/ vì âmđầu và âmcuối /-m/ loạitrừ lẫnnhau (Schuessler 2007). Tầnsuất xuấthiện cực hiếm trong cổthư chothấy đây khôngphải từ tíchcực của OC mà là tàndư của một ngônngữ nền. Theo Bodman (1980): Một hapax legomenon về “máu” trong Tảtruyện có nguồn gốc NamÁ: Proto‑Mnong mham, Proto‑North Bahnaric maham, 衁 hmam > hmang > ɣuáng. || chardb.iis.sinica.edu.tw/char/21663: (1.) 血液。 , (2) 蟹黃。|| Guoyu Cidian: 血液。 《說文解字.血部》:「衁,血也。」, 《左傳.僖公十五年》:「士 刲 羊,亦 無 衁 也。」 ]

(3)“Ditruyền” ởđây ápdụng cho từcăn và đặctính ngônngữ. Vídụ: 

  • 疼 téng đớn trong đớnđau ~ 疼痛 téngtòng, HV đôngthống, HN đauđớn
  • 痛 tòng, SV thống (đau), Cf. OC *doŋw / *ŋw → “đau” /daw1/
  • 疼 téng trong 疼愛 téng’ài, HV đôngái → “thươngyêu”
  • 腳 jiǎo “chân” và 腳板 jiǎobǎn → “bànchân” (đảonghịch)

    Những đặctính này không hiệndiện trong các từ Hán vaymượn trong tiếng Nhật hay Hàn.

    (4)^ Trườnghợp Nhật và Hàn vaymượn từ tiếngHán-Trungcổ cóthể sosánh với tiếngAnh kỹthuật trong ngônngữ lậptrình ngàynay: được hầuhết các quốcgia — kểcả Trunghoa — tiếpthu và trởthành bộphận khôngthể táchrời của ngônngữ.

    (5)Liênquan đến hoạtđộng xuấtbản: phongcách viết, chữNôm, Hánvăn nặng, từnguyên Hán‑Việt, và việc ấnhành songngữ Pháp–Quốcngữ giữa thếkỷ 20. (Xem Tô Kiều Ngân, Mặc khách Sàigòn, 2013, tr. 16)

    (6)Ngữ hệ Choang (Zhuang) — Vahcuengh (trước 1982: Vaƅcueŋƅ, chữ Sawndip: 话壮), từ vah “ngônngữ” + Cuengh “Choang”.

    Là các ngônngữ Tháicổ (Tai) bảnđịa của người Choang (Nùng) — một nhóm dântộc, khôngphải một nhóm ngônngữ.

    • Phânbố: Quảngtây, Quýchâu (Bouyei), Vânnam.
    • 16 ngônngữ ISO 639‑3, không thônghiểu lẫnnhau.
    • Tồntại liêntục phươngngữ giữa Wuming–Bouyei và giữa Choang–Tày–Nùng–Sánchay.
    • Không tạothành một đơnvị ngônngữ học; bất kỳ đơnvị nào bao gồm Choang đều phải baogồm toànbộ Tai.

            Edmondson (UT Arlington):  

            Dựatrên ngoạidanh /kɛɛuA1/ (Choang và Thái dùng đểchỉ ngườiViệt), ông chorằng sự phânkỳ Choang–Tai TâyNam xảyra không sớmhơn 112 TCN (năm thànhlập Giaochỉ) và không muộnhơn thếkỷ 5–6. (Source: https://en.wikipedia.org/wiki/Zhuang_languages )

    (7)^ Triều Thương còngọilà Ân, Ân-Thương (khoảng thếkỷ 17 trước Côngnguyên đến khoảng thếkỷ 11 trước Côngnguyên), là vươngtriều đầutiên của Trungquốc có văntự ghichép trựctiếp vào thờikỳ  đồđồng.

    Trong giaiđoạn đầu Triều Thương nhiềulần dờiđô; đến 273 năm cuối, Bàn Canh đóngđô tại Ân (nay là Thànhphố Andương, Trungquốc), vìthế Triều Thương còn đượcgọilà Triều Ân; đôikhi cũng gọilà Ân-Thương hay Ân.

    Vào hậu kỳ Triều Thương, lịchsử Trungquốc chuyển từ thờiđại dãsử sang thờiđại chínhsử. 
    Thương là vươngtriều kế tiếp Triều Hạ trong lịchsử Trungquốc, và sovới Hạ thì Thương có tưliệu khảocổ phongphú hơn nhiều. Thương Thang, thủlĩnh bộlạc Thương, vốnlà chưhầu của Hạ, saukhi liênminh chưhầu đánhbại nhàHạ trong trận Minhđiều thì lậpquốc. Trảiqua 17 đời 31 vịvua; đến đời cuối Trụvương bị Chu Vũvương đánhbại và mất trong trận Mụcdã. (https://zh.wikipedia.org/wiki/商朝 )

    Theo truyềnthuyết Việtnam chép trong Lĩnhnam Chíchquái, vào thời nhàÂn của Trunghoa, Hùngvương vì “khuyết lễ triềucống” nên khiến Vua Ân đemquân sang xâmphạt (gọilà “Ânkhấu”; còn ĐạiViệt Sửký Toànthư · Ngoạikỷ · Hồngbàng Kỷ lại ghilà vào đời “Hùngvương thứsáu” thì “trongnước có loạn”). 
    Khi đạiquân đã ápsát biêncảnh, tại Huyện Tiêndu (Vũninh), Xã Phùđổng có một đồngtử ba tuổi tự xin ratrận, dẫnquân Hùngvương tiếnthẳng đến tiềntuyến của quân Ân: “vung kiếm mà tiến, quanquân (tức quân Hùngvương) theosau”. Vua Ân tửtrận tại trậntiền, còn đồngtử thì “cởiáo cưỡingựa mà bay lêntrời”. Từ đó Hùngvương tôn đồngtử ấy làm “Phùđổng Thiênvương” và lậpđền thờphụng. 

    Tuynhiên họcgiả Việtnam cậnđại Trần Trọng Kim với tháiđộ tôntrọng sựthực chỉrõ rằng truyềnthuyết “Triều Ân xâmlược” là điều sailầm.  
    Ông lậpluận: “Triều Ân Trungquốc đóng tại lưuvực Hoànghà tức các vùng nay là Hànam trựclệ Sơntây, và Thiểmtây. Còn toànbộ vùng Trườnggiang khiấy đềulà đất Mandi. Từ Trườnggiang đến BắcViệt ta đườngsá cựckỳ xaxôi. Dẫu kh ấy nước ta có Hồngbàng làmvua thì chắcchắn cũng chưa có kỷcương gì chỉ như một vị langquan của giống Mường mà thôi; vìvậy khônghề có thôngthương gì với Triều Ân thì làmsao có thể phátsinh chiếntranh? Hơnnữa sửsách Trungquốc cũng khônghề ghichép việc này. Vậy có lýdo gì để nói ‘Ânkhấu’ chính là người của Triều Ân Trungquốc?”

    Dođó Trần Trọng Kim xem “Ânkhấu” chỉ là “một bọn giặccướp mang tên ấy” màthôi.

    Phần bổsung:

    [Có bằngchứng chothấy nước Vănlang có sựtiếpxúc với Triều Ân (nhàThương) qua cổvật đồng vào thếkỷ 10 TCN tìmthấy ở Hồnam. Trừphi bộtộc Lạcviệt từng thuộc về nướcSở cổ (?)]

    Những truyềnthuyết liênquan đến Thánh Gióng khôngphải là trọngtâm của khảocứu này; ởđây chúngta chỉ xétđến phươngdiện ngônngữ. Tuynhiên, vẫn tồntại những bằngchứng chothấy quốcgia Vănlang cổ đãcó tiếpxúc với Triều Thương, qua việc pháthiện các cổvật bằng đồng của Triều Thương vào thếkỷ 10 trước Côngnguyên tại Tỉnh Hồnam.

    Trong bàiviết của Lâm Khởi về nhómngười Trungquốc đưa được cổvật trởlại Hồnam, có đoạn:

    “Một món đồđồng Trungquốc 3000 nămtuổi, gọilà minfanglei, sắp được đưa trởvề nơi sinhthành của nó để đoàntụ với chiếcnắp mà nó đã bị táchrời gần một thếkỷ. Cuộcđoàntụ này thựchiện được là nhờ một thươngvụ tưnhân do các nhàsưutầm Trungquốc thựchiện ngày 19 thángtư tại New York. Được tônxưng là ‘vua của mọi loại fanglei’, chiếc đồđồng hìnhvuông này có niênđại Triều Thương (khoảng thế kỷ 16–11 trước Côngnguyên), vốnlà một lễkhí dùng đựng rượu cúngtế. Nó được khaiquật tại Đàouyên, Tỉnh Hồnam, vào năm 1922.”  (Source: http://www.chinadaily.com.cn/cndy/2014-03/21/content_17366159.htm)

    (8)Các nền vănhóa khảo cổ:

    • Phùngnguyên (2000–1500 TCN)
    • Đồngđậu (1500–1000 TCN)
    • Gòmun (1100–800 TCN)
    • Đôngsơn (1000 TCN–100 SCN)
    • Sahuỳnh (1000 TCN–200 SCN)
    • Óc-Eo (1–630 SCN)
    (Source: https://en.wikipedia.org/wiki/Gò_Mun_culture)

    (9)Tưliệu ditruyềnhọc HLA‑DR và DQB1 của ngườiKinh Hànội:

    • Mẫu: 103 người Kinh
    • Các alen DRB11202, 0901 và DQB10301, 03032, 0501 có tầnsuất rất cao
    • NgườiKinh là mộttrongnhững nhóm đồngnhấtnhất về HLA lớp II ở ĐôngÁ
    • Ba haplotype chiếm gần 50%
    • Gầngũinhất với ngườiThái và ngườiHoa ở nhiều vùng
    • Kết quả phùhợp với bằngchứng khảocổ và ngônngữ về nguồngốc ngườiViệt

       (Nguồn:  
      http://www.taiwandna.com/VietnamesePage.htm:)

    DNA HLA‑DR và ‑DQB1 Đadạng trong Quầnthể ngườiKinh tại Hànội 

    Vu‑Trieu A, Djoulah S, Tran‑Thi C, Nguyen‑Thanh T [sic], Le Monnier De Gouville I, Hors J, Sanchez‑Mazas A.  
    Nguồn: Department of Immunology and Physiopathology, Medical College of Hanoi, Vietnam. (Khoa Miễndịchhọc và Sinhlýhọc, Trường Y Hànội, Việtnam)

     

    Tómtắt (bảndịch)

    Chúngtôi báocáo kếtquả địnhdạng (typing) các locus HLA‑DR B1, B3, B4, B5 và DQB1 bằng kỹthuật PCR‑SSO (polymerase chain reaction sequence‑specific oligonucleotide) trên mẫu gồm 103 ngườiKinh tại Hànội, đồngthời sosánh tầnsuất alen và haplotype của họ với các quầnthể ĐôngÁ và Đạidương được khảosát trong Hộinghị HLA Quốc tế lần thứ 11 và 12. NgườiKinh thểhiện một số alen có tầnsuất rấtcao tại locus DRB1 (1202 — đãđược xácnhận bằng giảitrình tự DNA — và 0901) và DQB1 (0301, 03032, 0501), khiến họ trởthành một trong những quầnthể đồngnhấtnhất về HLA lớp II từng được khảosát tại ĐôngÁ. Ba haplotype chiếm gần 50% tổng tầnsuất haplotype ở ngườiViệt. Haplotype phổbiến nhấtlà HLA‑DRB11202‑DRB30301‑DQB10301 (28%), đồngthời cũng chiếm ưuthế ở ngườiHoa miềnNam, Micronesia và Java. Ngượclại, DRB11201 (phổbiến ở Tháibìnhdương) hầunhư vắngmặt ở ngườiViệt. Haplotype phổbiến thứ hai là DRB10901‑DRB401011‑DQB103032 (14%), cũng thường gặp trong nhiều quầnthể người Hoa, nhưng với chuỗi phụ (accessory chain) khác — DRB40301 — ở phần lớn các nhóm dântộc. Khoảngcách ditruyền được tínhtoán giữa các quầnthể Áchâu và Đạidương khảosát theo DRB1 và DQB1 chothấy ngườiViệt gần với ngườiThái và các nhóm Hoa ở nhiều vùng khácnhau. Những kếtquả này phùhợp với bằngchứng khảocổ và ngônngữ, đónggóp vào việc làm sángtỏ nguồngốc của quầnthể ngườiViệt — một vấnđề trướcđây chưa từng rõràng.

    PMID: 9442802 [PubMed - indexed for MEDLINE]

    Source: HLA-DR and -DQB1 DNA polymorphisms in a Vietnamese Kinh population from Hanoi.